Hàng hóa công gây thất bại thị trường môi trường như thế nào?
- Hàng hóa công môi trường khác hàng hóa tư ở điểm nào?
- Tính không loại trừ tạo ra vấn đề người đi nhờ như thế nào?
- Vì sao thị trường có thể cung cấp quá ít chất lượng môi trường?
- Ví dụ khí hậu cho thấy thất bại này ở quy mô lớn như thế nào?
- Không phải mọi thất bại thị trường môi trường đều là vấn đề hàng hóa công
- Tính không loại trừ giải thích vì sao cần cơ chế hành động tập thể
Kết quả là lợi ích mà doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể thu về thấp hơn tổng lợi ích mà hoạt động bảo vệ môi trường tạo ra. Một dự án có thể rất đáng làm xét trên phương diện xã hội nhưng vẫn không hấp dẫn xét trên phương diện lợi nhuận tư nhân. Khoảng cách giữa hai mức lợi ích này chính là nền tảng của thất bại thị trường đối với nhiều hàng hóa công môi trường.
Hàng hóa công môi trường khác hàng hóa tư ở điểm nào?
Trong một thị trường hàng hóa tư thông thường, người bán có thể ngăn người không trả tiền sử dụng sản phẩm. Một người muốn có chiếc xe, bữa ăn hay dịch vụ tư vấn phải trả giá mà người cung cấp yêu cầu. Khả năng loại trừ này cho phép doanh nghiệp liên kết tương đối trực tiếp giữa người hưởng lợi và người trả tiền.
Hàng hóa công thì khác. Hai thuộc tính kinh tế học thường được sử dụng để nhận diện hàng hóa công thuần túy là không loại trừ và không cạnh tranh trong tiêu dùng.
Không loại trừ có nghĩa là sau khi hàng hóa đã được cung cấp, việc ngăn một người không trả tiền hưởng lợi có thể bất khả thi hoặc quá tốn kém. Không cạnh tranh có nghĩa là việc một người hưởng lợi không nhất thiết làm giảm lượng lợi ích dành cho người khác.
Một số lợi ích môi trường có đặc điểm gần với cấu trúc này. Chẳng hạn, khi chất lượng không khí trong một khu vực được cải thiện, rất khó chỉ cho những người đã đóng tiền được hít thở không khí sạch hơn. Tương tự, lợi ích của việc hạn chế biến đổi khí hậu không thể được phân phối riêng cho từng người theo số tiền họ tự nguyện đóng góp.
Chính thuộc tính không loại trừ làm suy yếu cơ chế thu tiền của thị trường. Nhà cung cấp không dễ bán từng “đơn vị lợi ích môi trường” cho từng người hưởng lợi như đối với hàng hóa tư.

Tính không loại trừ tạo ra vấn đề người đi nhờ như thế nào?
Giả sử một cộng đồng có thể đóng góp để cải thiện chất lượng môi trường. Mỗi người đều hưởng lợi nếu dự án thành công. Tuy nhiên, một cá nhân có thể nhận ra rằng mình vẫn hưởng phần lớn lợi ích ngay cả khi không đóng góp.
Khi đó xuất hiện động cơ đi nhờ, hay free-rider problem.
Ở cấp độ cá nhân, lựa chọn không đóng góp có thể có vẻ hợp lý. Người đó tiết kiệm được chi phí trong khi vẫn được hưởng môi trường tốt hơn nếu những người khác chi trả. Nhưng nếu nhiều người cùng hành động theo logic này, tổng nguồn lực huy động được sẽ thấp.
Đây là điểm quan trọng: thất bại không nhất thiết xuất hiện vì con người không coi trọng môi trường. Nó có thể xuất hiện ngay cả khi mọi người đều đánh giá cao lợi ích môi trường. Vấn đề nằm ở chỗ mỗi người có động cơ che giấu hoặc giảm mức sẵn lòng trả tiền thể hiện ra thị trường vì họ hy vọng người khác sẽ chịu chi phí.
Cơ chế diễn ra theo chuỗi:
Không loại trừ → có thể hưởng lợi mà không trả tiền → xuất hiện động cơ đi nhờ → mức chi trả tự nguyện thấp hơn giá trị xã hội → doanh thu tư nhân không phản ánh đầy đủ lợi ích → hàng hóa môi trường được cung cấp dưới mức tối ưu.
Vì vậy, vấn đề người đi nhờ không chỉ là vấn đề đạo đức hay thái độ cá nhân. Nó là một vấn đề về cấu trúc khuyến khích.
Vì sao thị trường có thể cung cấp quá ít chất lượng môi trường?
Đối với một hàng hóa tư, quyết định sản xuất thường dựa trên lợi ích mà người bán có thể thu hồi thông qua giá. Nếu người mua sẵn lòng trả nhiều hơn chi phí tạo ra sản phẩm, giao dịch có thể diễn ra.
Đối với hàng hóa công môi trường, phép tính này bị lệch vì một phần đáng kể lợi ích không thể được thu thành doanh thu.
Giả sử một dự án bảo vệ hệ sinh thái có chi phí 100 đơn vị. Dự án tạo ra lợi ích 20 đơn vị cho mỗi người trong một cộng đồng gồm 10 người. Tổng lợi ích xã hội là 200 đơn vị, lớn hơn chi phí 100 đơn vị, nên xét về hiệu quả xã hội dự án đáng được thực hiện.
Nhưng nếu không thể loại trừ người không đóng tiền, từng cá nhân lại có lý do để chờ những người còn lại trả chi phí. Nhà cung cấp tư nhân vì thế có thể chỉ huy động được một phần nhỏ trong 200 đơn vị lợi ích xã hội. Dự án có khả năng không được triển khai dù tổng lợi ích của nó lớn hơn tổng chi phí.
Trong kinh tế học hàng hóa công, điều kiện hiệu quả có thể biểu diễn bằng nguyên tắc:
ΣMBᵢ = MC
Trong đó, MBᵢ là lợi ích cận biên của từng người và MC là chi phí cận biên để cung cấp thêm hàng hóa công. Do nhiều người có thể cùng hưởng một lượng hàng hóa công, lợi ích xã hội cận biên được xác định bằng cách cộng lợi ích cận biên của các cá nhân.
Thị trường tự nguyện lại gặp khó khăn trong việc quan sát và thu đủ tổng giá trị này. Người tiêu dùng có động cơ khai báo mức sẵn lòng trả thấp hơn lợi ích thật sự mà họ nhận được. Vì vậy, tín hiệu giá mà nhà cung cấp nhìn thấy có thể thấp hơn lợi ích xã hội cận biên.
Hệ quả điển hình không phải là “không ai cần hàng hóa”, mà là mức cung thị trường thấp hơn mức xã hội có lợi khi cung cấp. Đây là dạng thất bại thị trường gọi là cung cấp thiếu hàng hóa công.
Ví dụ khí hậu cho thấy thất bại này ở quy mô lớn như thế nào?
Ổn định khí hậu thể hiện rõ logic của tính không loại trừ. Khi một doanh nghiệp, một quốc gia hoặc một cộng đồng giảm phát thải khí nhà kính, lợi ích của việc giảm rủi ro khí hậu không chỉ thuộc về chủ thể đã chịu chi phí. Một phần lợi ích lan sang những người khác và thậm chí sang các quốc gia khác.
Trong khi đó, chi phí giảm phát thải thường tập trung hơn. Chủ thể thực hiện có thể phải đầu tư công nghệ, thay đổi nhiên liệu, nâng hiệu suất hoặc từ bỏ một phương án sản xuất rẻ hơn.
Điều này tạo ra sự bất đối xứng:
· Chi phí hành động thường được người thực hiện cảm nhận trực tiếp
· Lợi ích môi trường lại được phân tán cho rất nhiều người
Một chủ thể riêng lẻ vì vậy có thể thấy việc giảm phát thải ít hấp dẫn hơn mức mà toàn xã hội đánh giá. Họ có động cơ chờ các chủ thể khác hành động rồi cùng hưởng lợi từ kết quả.
Khi logic này lặp lại ở nhiều người, nhiều doanh nghiệp hoặc nhiều quốc gia, tổng mức đầu tư vào bảo vệ khí hậu có thể thấp hơn mức mang lại lợi ích ròng lớn nhất cho xã hội.
Đây là một biểu hiện đặc biệt rõ của khoảng cách giữa lợi ích tư nhân và lợi ích xã hội do tính không loại trừ tạo ra.
Không phải mọi thất bại thị trường môi trường đều là vấn đề hàng hóa công
Một điểm dễ gây nhầm lẫn là coi mọi vấn đề môi trường đều là thất bại do hàng hóa công. Trên thực tế, kinh tế học môi trường phân biệt nhiều cơ chế khác nhau.
Ô nhiễm thường được phân tích thông qua ngoại ứng tiêu cực. Người gây ô nhiễm có thể không phải chịu toàn bộ thiệt hại mà hoạt động của mình gây ra cho người khác. Khi chi phí xã hội lớn hơn chi phí tư nhân, thị trường có xu hướng tạo ra quá nhiều hoạt động gây ô nhiễm.
Ngược lại, với hàng hóa công môi trường, trọng tâm thường nằm ở phía lợi ích: người tạo ra hoặc bảo vệ hàng hóa không thể thu lại toàn bộ lợi ích mà xã hội nhận được, nên thị trường có xu hướng tạo ra quá ít hoạt động bảo vệ môi trường.
Hai cơ chế có thể cùng xuất hiện nhưng không nên đồng nhất:
Ngoại ứng tiêu cực: chi phí xã hội không được phản ánh đầy đủ trong quyết định tư nhân.
Hàng hóa công: lợi ích xã hội không được nhà cung cấp thu hồi đầy đủ.
Cũng cần phân biệt hàng hóa công với tài nguyên dùng chung. Ví dụ, nguồn cá hoặc nguồn nước có thể khó loại trừ người sử dụng nhưng lại có tính cạnh tranh: lượng tài nguyên một người khai thác làm giảm phần còn lại cho người khác. Đây gần với vấn đề tài nguyên chung hơn là hàng hóa công thuần túy.
Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tế vì mỗi loại thất bại đòi hỏi cách xử lý khác nhau.
Tính không loại trừ giải thích vì sao cần cơ chế hành động tập thể
Nếu nguyên nhân của cung cấp thiếu là người hưởng lợi không thể bị buộc phải trả tiền thông qua giao dịch thị trường thông thường, chỉ kêu gọi mọi người tự nguyện đóng góp có thể không khắc phục được cấu trúc khuyến khích.
Đối với hàng hóa công môi trường, một giải pháp kinh tế là tạo ra cơ chế giúp gộp mức sẵn lòng chi trả của nhiều người và biến lợi ích xã hội thành nguồn tài chính có thể sử dụng để cung cấp hàng hóa.
Đó là lý do các hình thức tài trợ tập thể, ngân sách công, quy định bắt buộc hoặc thỏa thuận phối hợp thường xuất hiện trong quản lý môi trường. Vai trò của những cơ chế này không đơn giản là “thay thị trường”, mà là xử lý phần lợi ích mà thị trường không thể thu hồi do tính không loại trừ.
Tuy nhiên, việc có thất bại thị trường không tự động chứng minh rằng mọi biện pháp can thiệp đều hiệu quả. Chính sách còn có chi phí quản lý, vấn đề thông tin, sai lệch trong thiết kế và rủi ro thất bại của khu vực công. Vì vậy, kết luận kinh tế hợp lý là: tính không loại trừ tạo cơ sở cho hành động tập thể, nhưng công cụ cụ thể phải phù hợp với loại thất bại đang tồn tại.
Hàng hóa công có thể gây thất bại thị trường môi trường vì tính không loại trừ tách người hưởng lợi khỏi nghĩa vụ trả tiền. Khi một người vẫn được hưởng chất lượng môi trường dù không đóng góp, động cơ đi nhờ xuất hiện. Tổng mức sẵn lòng chi trả thể hiện trên thị trường vì thế thấp hơn tổng lợi ích xã hội thực sự.
Nhà cung cấp tư nhân không thu hồi được toàn bộ giá trị mà hoạt động bảo vệ môi trường tạo ra, nên những dự án có lợi cho xã hội vẫn có thể không đủ hấp dẫn về mặt tư nhân. Kết quả đặc trưng là chất lượng môi trường hoặc hoạt động bảo vệ môi trường được cung cấp dưới mức hiệu quả xã hội.
Do đó, mối liên hệ quan trọng nhất giữa hàng hóa công và thất bại thị trường môi trường có thể tóm lại là: không loại trừ làm phát sinh đi nhờ; đi nhờ làm suy yếu tín hiệu giá và khả năng thu hồi lợi ích; tín hiệu thị trường bị thiếu khiến mức cung hàng hóa công môi trường thấp hơn mức xã hội mong muốn.
