Ngoại tác môi trường hình thành khi tác động không được tính vào đâu?
- Ngoại tác hình thành khi tác động nằm ngoài phép tính của người ra quyết định
- Khoảng cách giữa chi phí tư nhân và chi phí xã hội được tạo ra thế nào?
- Giá thị trường bỏ sót điều gì khi môi trường không được định giá đầy đủ?
- Ngoại tác tiêu cực và ngoại tác tích cực tạo ra hai dạng lệch khác nhau
- Vì sao ngoại tác làm quyết định cá nhân lệch khỏi kết quả xã hội?
- Nội hóa ngoại tác nghĩa là đưa phần bị bỏ sót trở lại quyết định
Có thể biểu diễn cốt lõi của ngoại tác tiêu cực bằng quan hệ:
Chi phí xã hội = Chi phí tư nhân Chi phí ngoại tác
Nếu một nhà sản xuất chỉ nhìn thấy chi phí nguyên liệu, lao động, năng lượng và các khoản mình trực tiếp thanh toán, trong khi ô nhiễm gây thêm tổn thất cho sức khỏe hoặc hệ sinh thái mà họ không phải gánh chịu tương ứng, chi phí tư nhân sẽ thấp hơn chi phí xã hội. Chính phần chênh lệch đó là nơi ngoại tác môi trường xuất hiện.
Ngoại tác hình thành khi tác động nằm ngoài phép tính của người ra quyết định
Một quyết định kinh tế thường được thực hiện bằng cách so sánh lợi ích mà chủ thể nhận được với chi phí mà chính chủ thể đó phải chịu. Vấn đề xuất hiện khi hoạt động còn tạo ra tác động lên những người không tham gia giao dịch nhưng tác động này không quay trở lại đầy đủ dưới dạng chi phí hoặc lợi ích đối với người ra quyết định.
Ví dụ, một cơ sở sản xuất có thể phải thanh toán tiền nhiên liệu, thiết bị và nhân công. Nếu phát thải của cơ sở làm suy giảm chất lượng không khí xung quanh, gây thiệt hại sức khỏe nhưng cơ sở không phải trả một khoản tương ứng với toàn bộ thiệt hại đó, phép tính sản xuất của doanh nghiệp và phép tính của xã hội không còn giống nhau. EPA gọi đây là trường hợp doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng không đưa đầy đủ tác động của quyết định sản xuất hay tiêu dùng lên các chủ thể bên ngoài vào quyết định của mình.
Do đó, câu hỏi “ngoại tác môi trường không được tính vào đâu?” có câu trả lời chính xác hơn là: không được nội hóa đầy đủ vào hàm chi phí, hàm lợi ích hoặc mức giá mà chủ thể gây ra tác động phải đối mặt.
Điều này cũng cho thấy một ranh giới quan trọng. Một hoạt động gây tác động môi trường chưa chắc đã tạo ra ngoại tác theo nghĩa kinh tế. Nếu toàn bộ chi phí môi trường liên quan đã được người gây tác động phải chịu và đưa vào quyết định, phần tác động đó đã được nội hóa thay vì tiếp tục tồn tại dưới dạng ngoại tác.

Khoảng cách giữa chi phí tư nhân và chi phí xã hội được tạo ra thế nào?
Với ngoại tác môi trường tiêu cực, cơ chế cơ bản có thể viết dưới dạng:
SMC = PMC MEC
Trong đó SMC là chi phí xã hội cận biên, PMC là chi phí tư nhân cận biên và MEC là chi phí ngoại tác cận biên. Khi MEC lớn hơn 0 nhưng người sản xuất chỉ ra quyết định dựa trên PMC, họ nhìn thấy chi phí thấp hơn chi phí thực mà xã hội đang chịu.
Khoảng cách này thay đổi động cơ hành vi. Một đơn vị sản phẩm có thể vẫn có lợi đối với doanh nghiệp dù chi phí xã hội của việc sản xuất thêm đơn vị đó đã vượt quá lợi ích xã hội mà nó tạo ra. IMF chỉ ra rằng đối với ô nhiễm, khi quyết định chỉ xét chi phí tư nhân mà bỏ qua chi phí áp lên người khác, hàng hóa gắn với ngoại tác tiêu cực có xu hướng được sản xuất nhiều hơn mức tối ưu xét từ góc độ xã hội.
Điểm quan trọng vì thế không nằm ở việc doanh nghiệp có “biết” ô nhiễm tồn tại hay không. Ngoại tác vẫn có thể tồn tại ngay cả khi tác động đã được biết rõ hoặc thậm chí đã được định lượng. Vấn đề là tác động đó có thay đổi trực tiếp phép tính mà doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng sử dụng để lựa chọn hành vi hay chưa.
Ngược lại, với ngoại tác tích cực, người ra quyết định có thể tạo ra lợi ích cho người khác mà không nhận được toàn bộ giá trị tương ứng. Khi lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích tư nhân, động cơ cá nhân có thể dẫn tới mức hoạt động thấp hơn mức xã hội mong muốn. IMF mô tả đây là trường hợp tối đa hóa lợi ích tư nhân có thể dẫn tới cung cấp thiếu những hoạt động tạo ra ngoại tác tích cực.
Giá thị trường bỏ sót điều gì khi môi trường không được định giá đầy đủ?
Giá có vai trò truyền thông tin về sự khan hiếm và chi phí. Nhưng giá chỉ thực hiện chức năng này đầy đủ khi các chi phí và lợi ích quan trọng có thể đi vào giao dịch.
Đối với nhiều tác động môi trường, mối liên hệ này không tự hình thành. Không khí sạch, chất lượng nước, đa dạng sinh học hoặc khả năng hấp thụ chất thải của môi trường có thể bị tác động mà không có một giao dịch trực tiếp giữa người gây tác động và tất cả những người chịu hậu quả. OECD từng xác định việc thiếu định giá đối với các nguồn lực môi trường là một căn nguyên kinh tế của ô nhiễm và suy thoái môi trường, bởi các chi phí liên quan có thể tồn tại bên ngoài giá thị trường.
Giả sử giá một sản phẩm phản ánh nguyên liệu, tiền lương, vận chuyển và lợi nhuận nhưng không phản ánh đầy đủ tổn thất sức khỏe do phát thải. Người mua sẽ nhìn thấy mức giá thấp hơn chi phí xã hội của việc tạo ra và sử dụng sản phẩm đó. Tín hiệu giá vì thế khuyến khích mức tiêu dùng hoặc sản xuất cao hơn so với trường hợp chi phí môi trường đã được đưa vào.
Đây cũng là lý do IMF phân biệt những chi phí được trả trực tiếp với external costs. Trong phân tích trợ cấp nhiên liệu hóa thạch, IMF xem một mức giá không bao gồm đầy đủ các chi phí bên ngoài như tác động khí hậu hoặc thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí là một trường hợp định giá chưa phản ánh toàn bộ chi phí xã hội.
Tuy vậy, “không có giá thị trường trực tiếp” không đồng nghĩa với “không thể định giá”. Phân tích kinh tế môi trường có thể ước lượng thiệt hại, lợi ích môi trường hoặc giá trị bóng để đưa chúng vào phân tích chi phí – lợi ích. Ngoại tác mô tả sự thiếu vắng của tác động trong động cơ ra quyết định ban đầu, không khẳng định rằng tác động đó vĩnh viễn không thể đo lường.
Ngoại tác tiêu cực và ngoại tác tích cực tạo ra hai dạng lệch khác nhau
Phần lớn thảo luận về môi trường tập trung vào ngoại tác tiêu cực vì ô nhiễm là ví dụ điển hình, nhưng externality về nguyên tắc có thể mang dấu âm hoặc dương. OECD cũng ghi nhận hoạt động kinh tế như nông nghiệp có thể tạo đồng thời tác động tích cực và tiêu cực lên đa dạng sinh học, chất lượng nước hoặc đất.
Với ngoại tác tiêu cực, người gây tác động không chịu toàn bộ chi phí mà hoạt động tạo ra. Khi đó:
Chi phí xã hội > Chi phí tư nhân
Tín hiệu tư nhân có xu hướng khuyến khích hoạt động nhiều hơn mức phù hợp nếu xét toàn bộ thiệt hại xã hội.
Với ngoại tác tích cực, chủ thể tạo ra lợi ích nhưng không thu được toàn bộ giá trị mà người khác nhận được. Khi đó:
Lợi ích xã hội > Lợi ích tư nhân
Chủ thể có thể không có đủ động cơ để thực hiện hoạt động ở quy mô mà xã hội mong muốn.
Hai trường hợp cùng xuất phát từ một cơ chế: người ra quyết định và người nhận toàn bộ hậu quả của quyết định không hoàn toàn trùng nhau. Vì vậy, ngoại tác không đồng nghĩa với “thiệt hại”. Thiệt hại môi trường là dạng phổ biến của ngoại tác tiêu cực, nhưng bản chất khái niệm nằm ở sự tách rời giữa tác động xã hội và phép tính tư nhân.
Vì sao ngoại tác làm quyết định cá nhân lệch khỏi kết quả xã hội?
Một cá nhân hoặc doanh nghiệp không nhất thiết phải hành động phi lý để tạo ra kết quả xã hội kém hiệu quả. Họ có thể tối ưu hoàn toàn hợp lý dựa trên những chi phí và lợi ích mà mình thực sự phải đối mặt.
Sai lệch xuất hiện ở tập hợp thông tin và động cơ được phản ánh vào quyết định.
Nếu một doanh nghiệp nhận toàn bộ doanh thu từ việc sản xuất thêm nhưng chỉ phải chịu một phần chi phí mà việc sản xuất thêm gây ra, sản lượng tối ưu đối với doanh nghiệp sẽ khác sản lượng tối ưu đối với xã hội. IMF giải thích rằng khi chi phí xã hội của ô nhiễm tăng cùng sản lượng nhưng chi phí áp lên người khác không được đưa vào quyết định, hàng hóa tạo ngoại tác tiêu cực sẽ bị sản xuất quá mức so với điểm tối thiểu hóa chi phí xã hội.
Đây chính là “khoảng cách giữa quyết định cá nhân với tác động xã hội” trong tiêu đề bài viết. Khoảng cách không nhất thiết xuất phát từ việc chủ thể cố ý gây hại. Nó có thể tồn tại đơn giản vì cấu trúc giá, quyền sở hữu hoặc quy tắc giao dịch khiến một phần hậu quả nằm ngoài phạm vi mà chủ thể phải cân nhắc trực tiếp.
Vì thế, ngoại tác môi trường thường được xem là một dạng thất bại thị trường: giá và quyết định phi tập trung không tự động truyền tải đầy đủ thông tin về tác động đối với người khác và môi trường. EPA cũng đặt các công cụ kinh tế môi trường trong chính bối cảnh này.
Nội hóa ngoại tác nghĩa là đưa phần bị bỏ sót trở lại quyết định
Nếu ngoại tác hình thành vì chi phí hoặc lợi ích xã hội nằm ngoài phép tính tư nhân, thì logic xử lý là làm cho phần tác động đó quay trở lại phép tính của người ra quyết định.
Quá trình này được gọi là nội hóa ngoại tác. Mục tiêu không nhất thiết là triệt tiêu mọi hoạt động gây tác động môi trường. Mục tiêu kinh tế là khiến chủ thể đối mặt tốt hơn với chi phí hoặc lợi ích xã hội liên quan đến lựa chọn của mình.
Một chuẩn tham chiếu cổ điển là thuế Pigou. Trong mô hình lý thuyết, mức thuế trên một đơn vị phát thải được đặt bằng chi phí xã hội cận biên của phát thải tại mức hiệu quả, qua đó làm cho người gây ô nhiễm phải đối diện với phần chi phí trước đây nằm ngoài quyết định tư nhân. IMF mô tả nguyên lý này là tăng giá của hành vi gây ô nhiễm để phản ánh chi phí xã hội, nhờ đó người gây ô nhiễm phải tính cả chi phí tư nhân và chi phí xã hội của hành động.
Thuế chỉ là một biểu hiện của logic nội hóa. EPA cho biết các công cụ dựa trên thị trường hoặc công cụ lai có thể được thiết kế để đưa chi phí ngoại tác môi trường của ô nhiễm, bao gồm tác động đối với sức khỏe con người và môi trường, vào phân tích của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Do đó, cách kiểm tra một ngoại tác môi trường không phải chỉ hỏi “hoạt động này có gây ô nhiễm không?”, mà nên hỏi ba câu liên tiếp:
1. Hoạt động tạo ra chi phí hoặc lợi ích cho chủ thể nào ngoài người ra quyết định?
2. Phần tác động đó đã được phản ánh đầy đủ vào giá, chi phí hoặc lợi ích mà người ra quyết định phải đối mặt chưa?
3. Nếu chưa, quyết định tư nhân sẽ thay đổi thế nào nếu phần tác động đó được nội hóa?
Ba câu hỏi này giúp phân biệt tác động môi trường nói chung với ngoại tác môi trường theo nghĩa kinh tế.
Ngoại tác môi trường vì thế hình thành tại khoảng trống giữa tác động thực tế của một quyết định đối với xã hội và phần tác động được phản ánh trong phép tính của người ra quyết định. Với ngoại tác tiêu cực, một phần chi phí được chuyển sang người khác hoặc môi trường; với ngoại tác tích cực, một phần lợi ích được người khác nhận nhưng không quay trở lại đầy đủ cho người tạo ra nó. Khi giá và động cơ tư nhân không phản ánh khoảng chênh lệch này, quyết định hợp lý ở cấp cá nhân vẫn có thể tạo ra kết quả không tối ưu ở cấp xã hội.
