Giới hạn của giá trị kinh tế môi trường nằm ở đâu?
- Giá trị kinh tế đo phúc lợi con người, không đo toàn bộ giá trị của tự nhiên
- Tiền tệ hóa chỉ hoạt động khi giá trị có thể được biểu diễn dưới dạng đánh đổi
- Khả năng chi trả khiến mức sẵn lòng trả không hoàn toàn giống mức độ quan trọng
- Một số chức năng sinh thái có thể được định giá, nhưng hệ sinh thái không chỉ là tổng các dịch vụ đã định giá
- Bất định, ngưỡng sinh thái và tổn thất không thể đảo ngược làm suy yếu logic thay thế bằng tiền
- Giá trị của tương lai phụ thuộc mạnh vào cách chiết khấu
- Giá trị văn hóa, bản sắc và quan hệ với tự nhiên thường không thể thu gọn thành một con số duy nhất
- Giá trị nội tại và các giới hạn đạo đức nằm ngoài năng lực quyết định của phép định giá kinh tế
- Phương pháp định giá khác nhau có thể cho những kết quả khác nhau mà không có một “giá môi trường” duy nhất
- Giới hạn của giá trị kinh tế không làm định giá môi trường trở nên vô ích
- Ranh giới thực sự của giá trị kinh tế môi trường là gì?
Điểm giới hạn quan trọng nằm ở chính cơ chế đo lường. Khi một giá trị được biểu diễn bằng tiền, nó phải đi qua một chuỗi giả định về sở thích, khả năng đánh đổi, thông tin, thu nhập, phạm vi thời gian và đối tượng có quyền được tính đến. Những giá trị không thể hoặc không nên được biểu diễn bằng các giả định đó sẽ nằm ngoài, hoặc chỉ được phản ánh rất không hoàn chỉnh trong kết quả định giá kinh tế.
Giá trị kinh tế đo phúc lợi con người, không đo toàn bộ giá trị của tự nhiên
Trong kinh tế môi trường, một tài nguyên không nhất thiết phải được mua bán trên thị trường mới có giá trị kinh tế. Con người có thể nhận lợi ích trực tiếp từ nước sạch, gỗ hay cảnh quan; nhận lợi ích gián tiếp từ điều hòa khí hậu, kiểm soát lũ hoặc thụ phấn; đồng thời coi trọng việc một loài hay một hệ sinh thái tiếp tục tồn tại ngay cả khi bản thân họ không trực tiếp sử dụng nó.
Đó là lý do các khung như tổng giá trị kinh tế có thể mở rộng phạm vi đánh giá vượt xa giá thị trường thông thường. Giá trị sử dụng, giá trị lựa chọn, giá trị tồn tại hay giá trị lưu truyền cho thế hệ sau đều có thể được xem xét.
Tuy nhiên, phạm vi rộng hơn không có nghĩa là phạm vi vô hạn. Điểm quy chiếu cuối cùng của giá trị kinh tế vẫn là tác động đối với phúc lợi và sở thích của con người. Nếu một khu rừng được coi là có giá trị vì con người hưởng dịch vụ điều hòa nước, thích biết rằng nó vẫn tồn tại hoặc muốn truyền lại cho con cháu, những giá trị đó có thể đi vào phân tích kinh tế. Nhưng nếu lập luận là khu rừng có giá trị tự thân bất kể con người nghĩ gì về nó, đây đã là một mệnh đề đạo đức hoặc triết học mà phép đo phúc lợi kinh tế không thể tự mình xác nhận.
Vì vậy, giới hạn đầu tiên cần giữ rõ là:
Giá trị kinh tế của môi trường không đồng nghĩa với giá trị toàn diện của môi trường.

Tiền tệ hóa chỉ hoạt động khi giá trị có thể được biểu diễn dưới dạng đánh đổi
Cốt lõi của nhiều phương pháp định giá kinh tế là một phép đánh đổi. Một cá nhân có thể chấp nhận trả một khoản tiền để cải thiện chất lượng môi trường, hoặc yêu cầu một mức bồi thường để chấp nhận một tổn thất. Từ những lựa chọn đó, nhà phân tích suy ra thay đổi phúc lợi.
Cơ chế này rất hữu ích khi người ta thực sự có thể cân nhắc giữa các phương án. Chẳng hạn, có thể đánh giá lợi ích của việc giảm ô nhiễm, cải thiện chất lượng nước hoặc bảo tồn một khu vực giải trí thông qua hành vi thị trường, chi phí tránh thiệt hại hoặc các phương pháp khảo sát sở thích.
Nhưng không phải mọi giá trị đều có tính chất đánh đổi như vậy.
Một cộng đồng có thể xem một khu rừng thiêng là thứ không được phép phá hủy dù được bồi thường bao nhiêu. Một xã hội có thể coi việc làm tuyệt chủng một loài là vượt qua giới hạn đạo đức chứ không phải một lựa chọn có thể chấp nhận nếu mức lợi ích kinh tế đủ lớn. Trong những trường hợp này, việc hỏi “giá bao nhiêu thì chấp nhận?” có thể áp đặt cấu trúc trao đổi lên một giá trị mà chủ thể vốn không nhìn nhận theo cấu trúc đó.
Khi đó, một con số tiền tệ không nhất thiết tiết lộ “giá thật” của môi trường. Nó có thể chỉ phản ánh cách phương pháp định giá buộc một giá trị phi trao đổi phải đi vào một khuôn khổ trao đổi.
Khả năng chi trả khiến mức sẵn lòng trả không hoàn toàn giống mức độ quan trọng
Một giới hạn quan trọng khác xuất hiện khi sử dụng mức sẵn lòng chi trả làm thước đo.
Hai người có thể cùng coi nước sạch là thiết yếu nhưng có khả năng trả tiền rất khác nhau. Người có thu nhập cao có thể thể hiện mức sẵn lòng trả lớn hơn chỉ vì họ có ngân sách rộng hơn. Ngược lại, cộng đồng nghèo phụ thuộc trực tiếp vào một hệ sinh thái có thể đưa ra mức tiền thấp dù tổn thất môi trường gây hậu quả rất lớn đối với cuộc sống của họ.
Do đó:
Mức sẵn lòng trả phản ánh đồng thời sở thích và khả năng kinh tế, chứ không phải một thước đo thuần túy về tầm quan trọng của môi trường.
Đây là lý do tổng lợi ích kinh tế lớn nhất không mặc nhiên đồng nghĩa với phương án công bằng nhất. Một phân tích chi phí – lợi ích có thể cho biết tổng thay đổi phúc lợi theo một hệ quy chiếu nhất định, nhưng nó không tự quyết định việc lợi ích thuộc về ai, tổn thất do ai gánh chịu hay phân phối đó có chính đáng hay không.
Nếu bỏ qua yếu tố phân phối, cùng một con số giá trị ròng có thể che giấu hai tình huống xã hội rất khác nhau: một phương án mang lại lợi ích nhỏ cho rất nhiều người và gây tổn thất nghiêm trọng cho một nhóm dễ bị tổn thương; một phương án khác phân bổ cả lợi ích lẫn chi phí cân bằng hơn.
Một số chức năng sinh thái có thể được định giá, nhưng hệ sinh thái không chỉ là tổng các dịch vụ đã định giá
Kinh tế học có thể định giá nhiều dịch vụ hệ sinh thái thông qua lợi ích mà chúng tạo ra. Đất ngập nước có thể giảm thiệt hại do lũ; rừng đầu nguồn có thể hỗ trợ điều tiết nước; côn trùng thụ phấn có thể đóng góp vào sản xuất nông nghiệp. Những quan hệ này tạo cơ sở để lượng hóa một phần giá trị kinh tế.
Giới hạn xuất hiện khi người phân tích chuyển từ mệnh đề “một số chức năng của hệ sinh thái tạo ra lợi ích kinh tế” sang mệnh đề mạnh hơn rằng “tổng số tiền định giá được chính là toàn bộ giá trị của hệ sinh thái”.
Hai mệnh đề này không tương đương.
Một hệ sinh thái là mạng lưới các quá trình phụ thuộc lẫn nhau. Không phải mọi quan hệ sinh thái đều được hiểu đầy đủ; không phải mọi chức năng đều có dữ liệu để nối với một thay đổi phúc lợi cụ thể; và không phải mọi cấu phần đều có thể tách riêng rồi cộng lại mà không xảy ra chồng lấn.
Ví dụ, nếu một dịch vụ trung gian đã góp phần tạo nên một dịch vụ cuối cùng mà con người hưởng lợi, định giá cả hai như hai lợi ích độc lập có thể dẫn đến tính trùng. Ngược lại, nếu chỉ định giá những dịch vụ có dữ liệu tốt, các chức năng khó quan sát hoặc chưa được nghiên cứu có thể bị bỏ sót.
Vì thế, “chưa có giá trị tiền tệ” không đồng nghĩa với “không có giá trị”.
Bất định, ngưỡng sinh thái và tổn thất không thể đảo ngược làm suy yếu logic thay thế bằng tiền
Định giá kinh tế thường dễ vận hành nhất khi thay đổi môi trường tương đối nhỏ, hậu quả có thể dự đoán và tồn tại những phương án thay thế hợp lý.
Các vấn đề môi trường lớn lại thường không đáp ứng đầy đủ những điều kiện này.
Một hệ sinh thái có thể tiến gần đến ngưỡng mà sau đó cấu trúc hoặc chức năng thay đổi mạnh. Một loài đã tuyệt chủng không thể được phục hồi bằng cách chi trả một khoản tiền tương đương. Một khu sinh cảnh mất đi có thể cần nhiều thập kỷ để phục hồi, thậm chí không thể quay trở lại trạng thái cũ. Trong những trường hợp như vậy, giả định rằng tổn thất có thể được cân bằng bằng một lượng lợi ích kinh tế khác trở nên yếu hơn.
Sự bất định còn tạo ra một vấn đề khác: định giá đòi hỏi thông tin về hậu quả, nhưng chính hậu quả đôi khi chưa biết chắc. Nếu chưa hiểu đầy đủ chức năng của một loài trong mạng lưới sinh thái, việc không quan sát được một lợi ích kinh tế lớn hiện tại không chứng minh rằng sự mất đi của loài đó có chi phí thấp.
Điều này đặc biệt quan trọng với các quyết định có khả năng gây hậu quả không thể đảo ngược. Khi tri thức còn hạn chế, con số định giá nên được hiểu là ước lượng có điều kiện, không phải chứng nhận rằng mọi hậu quả đã được quy đổi đầy đủ.
Giá trị của tương lai phụ thuộc mạnh vào cách chiết khấu
Các tác động môi trường thường kéo dài qua nhiều thế hệ. Để so sánh lợi ích và chi phí xảy ra ở những thời điểm khác nhau, phân tích kinh tế thường sử dụng chiết khấu.
Cơ chế toán học này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả.
Giả sử một lợi ích môi trường tương đương 100 đơn vị tiền tệ xuất hiện sau 50 năm. Với tỷ lệ chiết khấu 3% mỗi năm, giá trị hiện tại chỉ còn khoảng 22,8 đơn vị. Nếu sử dụng 5%, con số giảm xuống còn khoảng 8,7 đơn vị.
Sự khác biệt không phát sinh vì hệ sinh thái đã thay đổi. Nó phát sinh vì giả định về cách quy đổi giá trị giữa hiện tại và tương lai thay đổi.
Do đó, định giá những vấn đề dài hạn như biến đổi khí hậu, suy thoái đất hoặc mất đa dạng sinh học không chỉ là bài toán đo lường. Nó còn chứa lựa chọn về mức độ coi trọng phúc lợi của các thế hệ tương lai.
Kinh tế học có thể làm rõ hệ quả của từng giả định chiết khấu, nhưng bản thân phép tính không thể tự quyết định mức độ công bằng giữa người đang sống và những người chưa ra đời.
Giá trị văn hóa, bản sắc và quan hệ với tự nhiên thường không thể thu gọn thành một con số duy nhất
Một cảnh quan có thể đồng thời là nguồn sinh kế, nơi thực hành tín ngưỡng, không gian ký ức cộng đồng, biểu tượng bản sắc và môi trường sống của nhiều loài. Một số thành phần có thể được định giá bằng tiền; một số khác chỉ được phản ánh rất hạn chế.
Vấn đề không chỉ là “khó tìm đủ dữ liệu”. Trong nhiều trường hợp, các giá trị này khác nhau về bản chất.
Mất thu nhập có thể được bồi thường bằng nguồn thu nhập khác. Nhưng mất một địa điểm tổ tiên có thể không có vật thay thế tương đương. Giá trị tinh thần của một cảnh quan cũng không nhất thiết tăng hay giảm theo cùng cách với giá trị thị trường của đất.
Nếu ép tất cả các giá trị đó vào một đơn vị tiền tệ rồi cộng lại, quá trình tổng hợp có thể làm mất chính những khác biệt cần thiết cho quyết định.
Bởi vậy, giới hạn của định giá kinh tế không đơn thuần là “chưa đo đủ”. Có những trường hợp vấn đề nằm ở tính không tương xứng giữa các loại giá trị: chúng có thể cùng quan trọng nhưng không nhất thiết có một tỷ lệ trao đổi có ý nghĩa.
Giá trị nội tại và các giới hạn đạo đức nằm ngoài năng lực quyết định của phép định giá kinh tế
Một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất là cho rằng nếu có thể ước lượng lợi ích kinh tế của một loài hoặc một hệ sinh thái thì đã trả lời được câu hỏi liệu nó có đáng được bảo vệ hay không.
Định giá kinh tế chỉ cung cấp một phần của câu trả lời.
Một loài có thể có giá trị kinh tế vì hỗ trợ du lịch, đóng vai trò trong hệ sinh thái hoặc đơn giản vì con người sẵn lòng chi tiền để biết rằng nó tiếp tục tồn tại. Nhưng lập luận rằng loài đó có quyền tồn tại độc lập với lợi ích của con người thuộc một hệ giá trị khác.
Tương tự, xã hội có thể xác lập những giới hạn mà không chấp nhận đánh đổi hoàn toàn bằng tiền: quyền tiếp cận nước sạch, bảo vệ một di sản đặc biệt, ngăn ngừa tổn hại nghiêm trọng hoặc duy trì những điều kiện sinh thái tối thiểu.
Trong các trường hợp đó, vai trò phù hợp của kinh tế học có thể là đánh giá chi phí của việc đạt mục tiêu, so sánh các phương án thực hiện hoặc phân tích hệ quả phân phối. Nó không nhất thiết phải quyết định xem chính giới hạn đạo đức đó “đáng giá bao nhiêu”.
Phương pháp định giá khác nhau có thể cho những kết quả khác nhau mà không có một “giá môi trường” duy nhất
Giá trị kinh tế môi trường không được quan sát trực tiếp giống giá của một hàng hóa đang giao dịch trên thị trường. Nó thường phải được suy ra.
Một số phương pháp dựa vào hành vi thực tế, chẳng hạn chi phí đi lại đến địa điểm giải trí hoặc phần chênh lệch giá tài sản gắn với chất lượng môi trường. Một số phương pháp dựa vào những lựa chọn được đặt ra trong khảo sát để đo mức sẵn lòng trả cho các thay đổi không có thị trường.
Mỗi phương pháp nhìn thấy một phần khác nhau của giá trị và đi kèm những điều kiện khác nhau. Kết quả có thể nhạy với cách mô tả kịch bản, phạm vi thay đổi môi trường, nhóm dân số được khảo sát, thông tin người tham gia nhận được và mô hình thống kê được sử dụng.
Vì vậy, một con số định giá nên được đọc cùng với câu hỏi:
· Giá trị nào đang được đo?
· Giá trị của ai đang được tính?
· Thay đổi môi trường nào đang được giả định?
· Phương pháp nào tạo ra con số?
· Những thành phần nào chưa được đưa vào?
Nếu năm câu hỏi này chưa rõ, việc trình bày một con số duy nhất với độ chính xác cao có thể tạo cảm giác chắc chắn lớn hơn mức tri thức thực sự cho phép.
Giới hạn của giá trị kinh tế không làm định giá môi trường trở nên vô ích
Việc thừa nhận giới hạn không dẫn đến kết luận rằng nên từ bỏ định giá kinh tế.
Ngược lại, định giá đặc biệt hữu ích khi một lợi ích môi trường đang bị đối xử như thể bằng không chỉ vì nó không có giá thị trường. Nếu một dự án chỉ ghi nhận doanh thu từ khai thác nhưng bỏ qua thiệt hại do ô nhiễm, suy giảm dịch vụ hệ sinh thái hoặc mất cơ hội sử dụng trong tương lai, phân tích kinh tế môi trường có thể giúp sửa sự bất cân xứng đó.
Giá trị kinh tế cũng hữu ích để:
· So sánh những phương án có hậu quả môi trường khác nhau
· Làm rõ các chi phí ngoại tác đang bị bỏ qua
· Đánh giá lợi ích của phục hồi hoặc bảo tồn
· Kiểm tra mức độ nhạy của quyết định trước các giả định
· Làm rõ ai nhận lợi ích và ai chịu chi phí
Nhưng con số kinh tế nên được xem là một đầu vào của quyết định, không phải phán quyết cuối cùng về giá trị của tự nhiên.
Một quyết định môi trường có chất lượng thường cần kết hợp nhiều lớp thông tin: hiệu quả kinh tế, giới hạn sinh thái, phân phối lợi ích và tổn thất, bất định, quyền lợi, giá trị văn hóa và các nguyên tắc đạo đức có liên quan.
Ranh giới thực sự của giá trị kinh tế môi trường là gì?
Có thể xác định ranh giới này bằng một nguyên tắc đơn giản: giá trị kinh tế có phạm vi mạnh nhất đối với những thay đổi môi trường có thể liên hệ một cách có ý nghĩa với phúc lợi con người và với các đánh đổi mà con người có khả năng biểu đạt.
Độ tin cậy giảm dần khi xuất hiện một hoặc nhiều điều kiện sau:
· Giá trị không được nhìn nhận như một thứ có thể đánh đổi
· Khả năng chi trả làm sai lệch việc diễn giải mức độ quan trọng
· Hậu quả sinh thái chưa được hiểu đầy đủ
· Tồn tại ngưỡng hoặc tổn thất không thể đảo ngược
· Nhiều thế hệ chịu tác động và kết quả phụ thuộc mạnh vào chiết khấu
· Giá trị văn hóa hoặc quan hệ cộng đồng không có vật thay thế tương đương
· Quyết định liên quan đến quyền, nghĩa vụ hoặc giới hạn đạo đức
· Phương pháp đo chỉ bao phủ được một phần của tổng tác động
Trong những tình huống đó, câu hỏi phù hợp không còn là “môi trường trị giá chính xác bao nhiêu tiền?” mà là “phần nào có thể định giá kinh tế một cách có ý nghĩa, phần nào cần được đánh giá bằng tiêu chí khác, và những giới hạn nào không nên bị che khuất bởi một con số tổng hợp?”.
Giá trị kinh tế môi trường có thể phản ánh một phần rất quan trọng của giá trị tự nhiên, kể cả nhiều lợi ích không có thị trường. Nhưng nó không thể phản ánh đầy đủ mọi giá trị của môi trường.
Giới hạn không chỉ đến từ thiếu dữ liệu hay phương pháp đo chưa hoàn hảo. Nó còn xuất phát từ bản chất của phép định giá: giá trị kinh tế gắn với phúc lợi, sở thích và khả năng đánh đổi của con người, trong khi tự nhiên còn có những giá trị sinh thái, văn hóa, đạo đức và nội tại không nhất thiết có thể quy về cùng một đơn vị tiền tệ.
Vì vậy, cách sử dụng phù hợp nhất không phải là coi định giá kinh tế như phép tính xác định “giá của thiên nhiên”, mà là dùng nó để làm rõ một lớp giá trị quan trọng trong một hệ thống ra quyết định rộng hơn. Một con số kinh tế tốt giúp nhìn thấy những lợi ích và tổn thất từng bị bỏ qua; nó không biến những gì chưa được định giá thành không có giá trị.
Có phải những gì không định giá được bằng tiền đều nằm ngoài kinh tế học?
Không. Kinh tế học có thể phân tích sự khan hiếm, đánh đổi, phân phối, rủi ro và lựa chọn ngay cả khi không tạo ra một con số tiền tệ duy nhất. Định giá bằng tiền chỉ là một công cụ trong phạm vi rộng hơn của phân tích kinh tế.
Có nên cộng mọi dịch vụ hệ sinh thái thành một tổng giá trị tiền tệ?
Chỉ khi các cấu phần được xác định rõ và tránh được tính trùng. Nếu một chức năng sinh thái trung gian đã được phản ánh trong lợi ích cuối cùng, cộng cả hai như hai giá trị độc lập có thể làm tổng giá trị bị phóng đại.
Một giá trị kinh tế thấp có chứng minh rằng hệ sinh thái ít quan trọng không?
Không. Kết quả thấp có thể phản ánh phạm vi định giá hẹp, thiếu thông tin, hạn chế về khả năng chi trả, bất định khoa học hoặc những giá trị vốn không được biểu đạt tốt bằng tiền. Vì vậy, mức định giá thấp không đủ để kết luận rằng giá trị tổng thể của hệ sinh thái thấp.
