Phân biệt chi phí ngoại tác và chi phí tư nhân
- Khác biệt cốt lõi nằm ở người gánh chịu chi phí
- Chi phí tư nhân thuộc về người trực tiếp ra quyết định
- Chi phí ngoại tác được chuyển sang người thứ ba
- Chi phí xã hội cho thấy phần chi phí bị bỏ sót
- Một hoạt động có thể tạo đồng thời hai loại chi phí
- Ranh giới thay đổi khi chi phí ngoại tác được nội hóa
- Vì sao phải phân biệt chi phí tư nhân và chi phí ngoại tác?
Vì vậy, cùng một hoạt động có thể đồng thời tạo ra cả chi phí tư nhân và chi phí ngoại tác. Nếu chỉ quan sát hóa đơn, giá bán hoặc chi phí kế toán của doanh nghiệp, một phần chi phí thực tế đối với xã hội có thể chưa được nhìn thấy.
Khác biệt cốt lõi nằm ở người gánh chịu chi phí
Chi phí tư nhân là phần chi phí do chính chủ thể thực hiện một hoạt động kinh tế gánh chịu. Chủ thể đó có thể là doanh nghiệp sản xuất, người tiêu dùng hoặc một bên trực tiếp tham gia giao dịch.
Chi phí ngoại tác là phần chi phí mà hoạt động đó gây ra cho một người hoặc một nhóm người khác không trực tiếp tham gia vào quyết định tạo ra chi phí.
Có thể hình dung sự khác biệt như sau:
|
Tiêu chí |
Chi phí tư nhân |
Chi phí ngoại tác |
|
Người gánh chịu |
Người trực tiếp ra quyết định hoặc tham gia giao dịch |
Người thứ ba bên ngoài giao dịch |
|
Có được chủ thể tính đến khi quyết định hay không |
Thường có |
Thường không đầy đủ |
|
Có phản ánh trực tiếp vào giá hoặc chi phí của chủ thể hay không |
Thường có |
Có thể không |
|
Ví dụ |
Nguyên liệu, tiền công, điện mà doanh nghiệp phải trả |
Ô nhiễm, tiếng ồn hoặc thiệt hại sức khỏe mà cộng đồng phải chịu |
Do đó, điểm phân biệt không nằm ở việc chi phí có phải bằng tiền hay không. Yếu tố quyết định là chi phí cuối cùng thuộc về ai và người tạo ra chi phí có phải tự gánh phần đó hay không.

Chi phí tư nhân thuộc về người trực tiếp ra quyết định
Khi một doanh nghiệp quyết định sản xuất thêm một sản phẩm, doanh nghiệp phải cân nhắc những khoản như nguyên liệu, lao động, năng lượng, vận chuyển hoặc hao mòn thiết bị. Đây là các chi phí tư nhân vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.
Tương tự, đối với người tiêu dùng, giá mua hàng, phí sử dụng hay những khoản phải thanh toán trực tiếp cũng có thể thuộc chi phí tư nhân của quyết định tiêu dùng.
Cơ chế ở đây khá rõ: nếu chi phí tăng, chủ thể phải trả nhiều hơn và có động cơ điều chỉnh quyết định. Một doanh nghiệp thấy nguyên liệu quá đắt có thể giảm sản lượng; một người tiêu dùng thấy giá sản phẩm quá cao có thể mua ít đi.
Vì người ra quyết định trực tiếp cảm nhận hậu quả tài chính của chi phí tư nhân, loại chi phí này thường được đưa vào phép tính lợi ích – chi phí của chính họ.
Tuy nhiên, chi phí tư nhân không đồng nghĩa với toàn bộ chi phí mà hoạt động đó gây ra. Đây chính là điểm cần đến khái niệm chi phí ngoại tác.
Chi phí ngoại tác được chuyển sang người thứ ba
Chi phí ngoại tác phát sinh khi một phần hậu quả tiêu cực của hoạt động kinh tế rơi vào người khác nhưng không được người gây ra chi phí bồi hoàn đầy đủ.
Chẳng hạn, một nhà máy phải tự trả tiền nguyên liệu và tiền lương. Đó là chi phí tư nhân. Nếu quá trình sản xuất đồng thời gây ô nhiễm không khí khiến cư dân xung quanh chịu ảnh hưởng sức khỏe hoặc phải bỏ thêm chi phí để hạn chế tác động, phần tổn thất của cư dân là chi phí ngoại tác nếu nhà máy không phải gánh đầy đủ hậu quả đó.
Cơ chế này tạo ra một sự tách biệt:
· Doanh nghiệp nhìn thấy chi phí mà doanh nghiệp phải trả
· Cộng đồng lại chịu thêm một phần chi phí khác
· Phần chi phí của cộng đồng có thể không xuất hiện đầy đủ trong giá sản phẩm
Người thứ ba không nhất thiết phải là một cá nhân cụ thể. Chi phí có thể rơi vào một nhóm dân cư, người sử dụng tài nguyên chung hoặc nhiều thành viên trong xã hội.
Điều quan trọng là việc một tác động gây khó chịu chưa tự động làm nó trở thành chi phí ngoại tác. Phải tồn tại tổn thất đối với bên ngoài giao dịch và tổn thất đó chưa được người tạo ra nó gánh chịu hoặc bồi hoàn đầy đủ.
Chi phí xã hội cho thấy phần chi phí bị bỏ sót
Trong kinh tế học vi mô, mối quan hệ cơ bản có thể biểu diễn bằng:
Chi phí xã hội = Chi phí tư nhân Chi phí ngoại tác
Công thức này giúp thấy rõ tại sao chỉ nhìn vào chi phí tư nhân có thể đánh giá thấp tổng nguồn lực mà xã hội phải hy sinh.
Giả sử một hoạt động sản xuất khiến doanh nghiệp phải chịu 100 đơn vị chi phí, đồng thời gây ra 20 đơn vị tổn thất cho người dân xung quanh. Khi đó:
· Chi phí tư nhân = 100
· Chi phí ngoại tác = 20
· Chi phí xã hội = 120
Doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định dựa trên mức 100 nếu 20 đơn vị còn lại không ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp. Nhưng xét từ góc độ xã hội, hoạt động thực sự tạo ra chi phí 120.
Đây là nguyên nhân khái niệm chi phí cận biên tư nhân và chi phí cận biên xã hội được phân biệt trong phân tích ngoại tác. Khi tồn tại ngoại tác tiêu cực chưa được tính vào quyết định của người gây ra nó, chi phí xã hội của việc sản xuất thêm một đơn vị có thể cao hơn chi phí tư nhân mà doanh nghiệp nhận thấy.
Một hoạt động có thể tạo đồng thời hai loại chi phí
Xét một phương tiện vận tải tạo ra tiếng ồn trong quá trình hoạt động.
Người vận hành có thể phải trả:
· Nhiên liệu
· Tiền công
· Bảo trì
· Phí sử dụng phương tiện
Đó là các chi phí tư nhân vì người vận hành trực tiếp chịu chúng.
Nếu tiếng ồn làm những hộ dân gần tuyến đường bị giảm chất lượng cuộc sống nhưng họ không được bồi thường, tổn thất đó thuộc chi phí ngoại tác.
Ví dụ này cho thấy không nên phân loại toàn bộ một hoạt động là “chi phí tư nhân” hoặc “chi phí ngoại tác”. Hai khái niệm mô tả hai phần khác nhau của tổng chi phí do cùng một hoạt động tạo ra.
Một cách kiểm tra thực tế là đặt hai câu hỏi:
1. Người ra quyết định phải tự trả hoặc tự chịu phần tổn thất nào?
2. Có phần tổn thất nào bị chuyển sang người không tham gia quyết định hay không?
Câu hỏi thứ nhất giúp nhận diện chi phí tư nhân; câu hỏi thứ hai giúp nhận diện chi phí ngoại tác.
Ranh giới thay đổi khi chi phí ngoại tác được nội hóa
Một chi phí ban đầu rơi vào người thứ ba không nhất thiết mãi nằm ngoài phép tính của người gây ra nó. Nếu cơ chế kinh tế hoặc thể chế khiến chủ thể phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả mà mình tạo ra, một phần chi phí ngoại tác có thể được nội hóa vào quyết định của chủ thể.
Ví dụ, nếu doanh nghiệp phải trả trực tiếp cho việc xử lý lượng chất thải mà trước đây cộng đồng phải chịu hậu quả, chi phí mà doanh nghiệp nhìn thấy sẽ tăng lên. Khoảng cách giữa chi phí tư nhân và chi phí xã hội nhờ đó có thể thu hẹp.
Điều này cũng giúp tránh một nhầm lẫn phổ biến: chi phí ngoại tác không được xác định đơn giản bằng tên của một khoản chi. Cùng một hậu quả môi trường có thể là ngoại tác trong trường hợp người gây ô nhiễm chuyển toàn bộ tổn thất cho cộng đồng, nhưng một phần của nó có thể trở thành chi phí tư nhân khi người gây ra phải trực tiếp chịu trách nhiệm.
Vì vậy, muốn phân loại chính xác cần xem xét cơ chế phân bổ chi phí trong từng trường hợp chứ không chỉ xem xét bản chất vật lý của tác động.
Vì sao phải phân biệt chi phí tư nhân và chi phí ngoại tác?
Sự phân biệt này giúp giải thích vì sao quyết định hợp lý đối với một cá nhân hoặc doanh nghiệp chưa chắc đã phản ánh đầy đủ hậu quả đối với xã hội.
Nếu doanh nghiệp chỉ gánh chi phí tư nhân, doanh nghiệp có động cơ ra quyết định dựa trên phần chi phí đó. Nhưng nếu hoạt động đồng thời tạo ra chi phí cho người khác, tổng chi phí xã hội sẽ cao hơn phần doanh nghiệp tự nhìn thấy.
Vì thế, khi đánh giá một hoạt động có ngoại tác tiêu cực, không nên chỉ hỏi “người sản xuất phải trả bao nhiêu?” mà còn phải hỏi “còn ai khác đang phải chịu hậu quả và phần chi phí đó có được tính vào quyết định hay chưa?”
Đây là ý nghĩa thực tế quan trọng nhất của việc tách hai khái niệm: chi phí tư nhân cho biết chủ thể trực tiếp phải gánh bao nhiêu, còn chi phí ngoại tác cho biết bao nhiêu chi phí đang rơi sang những người bên ngoài quyết định đó.
Chi phí tư nhân và chi phí ngoại tác khác nhau chủ yếu ở người gánh chịu. Chi phí tư nhân thuộc về người trực tiếp thực hiện hoặc tham gia quyết định kinh tế; chi phí ngoại tác thuộc về người thứ ba không tham gia nhưng vẫn phải chịu tổn thất. Khi một hoạt động tạo ra ngoại tác tiêu cực, chi phí xã hội bằng chi phí tư nhân cộng với phần chi phí ngoại tác. Vì vậy, nhìn vào chi phí của riêng doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng chưa chắc đã phản ánh đầy đủ chi phí thực sự mà hoạt động đó tạo ra cho xã hội.
