Vì sao đo lường ngoại tác môi trường thường gặp nhiều khó khăn?
- Khó khăn đầu tiên là xác định ngoại tác bắt đầu và kết thúc ở đâu
- Dữ liệu quan sát không tự động cho biết phần thiệt hại nào là ngoại tác
- Thiếu dữ liệu chỉ là một phần; dữ liệu còn phải khớp về không gian và thời gian
- Nhiều thiệt hại môi trường không có giá thị trường để quan sát
- Giá trị môi trường không chỉ khác giữa các địa điểm mà còn khác giữa các nhóm người
- Quan hệ môi trường thường phi tuyến và chứa ngưỡng khó quan sát
- Tác động dài hạn làm phát sinh vấn đề quy đổi giá trị theo thời gian
- Cộng nhiều loại ngoại tác có thể dẫn đến bỏ sót hoặc tính trùng
- Vì sao không nên hiểu “đo lường khó” là “không thể đo lường”
Vì vậy, một con số về “chi phí môi trường” thực chất là kết quả của nhiều quyết định đo lường nối tiếp nhau. Chỉ cần thay đổi ranh giới phân tích, kịch bản đối chứng, khoảng thời gian, nhóm đối tượng chịu tác động hoặc phương pháp định giá thì kết quả cuối cùng có thể thay đổi đáng kể. OECD cũng lưu ý rằng ngay cả chi phí xã hội của carbon đã là một bài toán phức tạp vì tác động của phát thải mang tính toàn cầu, thay đổi theo thời gian, không gian và nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khó khăn đầu tiên là xác định ngoại tác bắt đầu và kết thúc ở đâu
Trước khi đo được ngoại tác, phải xác định ranh giới của hệ thống được đo. Đây là vấn đề cơ bản nhưng dễ bị xem nhẹ.
Một hoạt động sản xuất có thể gây tác động trực tiếp tại nơi phát sinh, chẳng hạn phát thải chất ô nhiễm ra không khí hoặc nước. Tuy nhiên, hậu quả có thể tiếp tục lan sang khu vực khác, ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất nông nghiệp, đa dạng sinh học hoặc các dịch vụ hệ sinh thái. Một số tác động xảy ra ngay, trong khi một số khác chỉ biểu hiện sau nhiều năm.
Do đó, cùng một hoạt động có thể cho ra các mức ngoại tác khác nhau nếu phạm vi nghiên cứu khác nhau:
· Một nghiên cứu chỉ tính ảnh hưởng tại khu vực đặt cơ sở
· Một nghiên cứu khác tính cả khu vực ô nhiễm lan truyền tới
· Một nghiên cứu chỉ xem xét tác động trong một năm
· Một nghiên cứu khác tính cả hậu quả tích lũy trong nhiều thập kỷ
Điều này không có nghĩa một trong các kết quả nhất thiết sai. Chúng có thể đang đo những đối tượng và ranh giới khác nhau.
Trong kế toán hệ sinh thái, việc xác định ranh giới không gian được xem là điều kiện nền tảng để có thể đo nhất quán diện tích, tình trạng, sự thay đổi của tài sản hệ sinh thái và phân bổ đúng các dòng dịch vụ mà hệ sinh thái tạo ra. Tài liệu của World Bank về định giá trong kế toán hệ sinh thái cũng chỉ ra rằng ngay cả cách mô tả quan hệ giữa tài sản hệ sinh thái, dịch vụ hệ sinh thái và các đơn vị kinh tế vẫn đòi hỏi những quy ước đo lường rõ ràng.
Vì thế, “đo đầy đủ” ngoại tác trước hết là một vấn đề về phạm vi. Nếu phạm vi quá hẹp, một phần chi phí xã hội bị bỏ sót. Nhưng nếu mở phạm vi quá rộng mà không xác định được quan hệ nhân quả, kết quả lại có nguy cơ đưa vào những thiệt hại không thực sự do hoạt động đang nghiên cứu gây ra.

Dữ liệu quan sát không tự động cho biết phần thiệt hại nào là ngoại tác
Ngay cả khi đã xác định được phạm vi, khó khăn tiếp theo là phân biệt giữa tương quan và tác động do hoạt động gây ra.
Giả sử chất lượng nước ở một khu vực suy giảm đồng thời với sự gia tăng hoạt động công nghiệp. Quan sát này chưa đủ để kết luận toàn bộ mức suy giảm là ngoại tác của ngành công nghiệp. Chất lượng nước còn có thể chịu ảnh hưởng của nông nghiệp, nước thải sinh hoạt, lượng mưa, dòng chảy, thay đổi sử dụng đất hoặc nhiều yếu tố tự nhiên khác.
Muốn xác định ngoại tác, câu hỏi thực chất là:
Nếu hoạt động đang nghiên cứu không xảy ra, điều kiện môi trường sẽ như thế nào?
Đó là vấn đề xây dựng kịch bản đối chứng. Nhưng trạng thái đối chứng thường không thể quan sát trực tiếp, bởi trong thực tế chỉ tồn tại một diễn biến đã xảy ra. Người phân tích phải ước lượng nó từ dữ liệu lịch sử, khu vực so sánh, mô hình khoa học hoặc các phương pháp nhận diện quan hệ nhân quả.
Sai số ở bước này truyền trực tiếp sang kết quả ngoại tác. Nếu đánh giá quá cao phần biến đổi môi trường do hoạt động gây ra, ngoại tác bị phóng đại. Nếu không nhận diện được những tác động gián tiếp hoặc tích lũy, ngoại tác lại bị đánh giá thấp.
Thiếu dữ liệu chỉ là một phần; dữ liệu còn phải khớp về không gian và thời gian
Ngoại tác môi trường thường đòi hỏi nhiều loại dữ liệu cùng lúc: lượng phát thải, nồng độ chất ô nhiễm, điều kiện khí tượng hoặc thủy văn, mức phơi nhiễm, biến đổi hệ sinh thái, dân số chịu ảnh hưởng và hậu quả kinh tế hoặc sức khỏe.
Vấn đề là những dữ liệu này hiếm khi có cùng độ phân giải.
Một bộ dữ liệu có thể được ghi nhận theo năm, trong khi tác động môi trường thay đổi theo giờ hoặc theo mùa. Số liệu phát thải có thể có ở cấp doanh nghiệp nhưng dữ liệu sức khỏe chỉ có ở cấp tỉnh. Một trạm quan trắc phản ánh tốt điều kiện tại vị trí đặt trạm nhưng không nhất thiết đại diện cho toàn bộ khu vực.
Ngoại tác cũng có tính không đồng nhất không gian. Cùng một đơn vị phát thải có thể tạo hậu quả khác nhau tùy nơi phát sinh. Phát thải gần khu dân cư đông đúc không có cùng mức tác động như phát thải tại khu vực ít người sinh sống. Tương tự, một thay đổi môi trường nhỏ ở hệ sinh thái nhạy cảm có thể có hậu quả lớn hơn một thay đổi có cùng độ lớn ở nơi có khả năng phục hồi cao.
Theo thời gian, bài toán còn phức tạp hơn. Một số thiệt hại có thể phục hồi nhanh, trong khi một số tác động tích tụ, có độ trễ hoặc ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Vì vậy, một phép đo tại một thời điểm khó phản ánh toàn bộ ngoại tác nếu quá trình gây tác động có động lực dài hạn.
Nhiều thiệt hại môi trường không có giá thị trường để quan sát
Ngay cả khi có thể xác định chính xác thay đổi vật lý, việc chuyển thay đổi đó thành giá trị kinh tế vẫn không đơn giản.
Một số hậu quả có thể liên hệ tương đối trực tiếp với thị trường, chẳng hạn tổn thất sản lượng nông nghiệp hoặc chi phí xử lý nước tăng thêm. Nhưng nhiều giá trị môi trường không được mua bán nên không có giá thị trường quan sát được.
Ví dụ gồm chất lượng cảnh quan, giá trị tồn tại của một loài, khả năng điều hòa nước của đất ngập nước, chất lượng không khí sạch hoặc lợi ích từ việc duy trì một hệ sinh thái cho thế hệ tương lai.
Không có giá thị trường không đồng nghĩa với không có giá trị. Nó chỉ có nghĩa rằng giá trị đó phải được suy ra gián tiếp.
Các phương pháp có thể dựa trên hành vi thực tế, như chi phí đi lại hoặc giá bất động sản, hoặc dựa trên khảo sát về mức sẵn lòng chi trả. Tuy nhiên, mỗi phương pháp đo một khía cạnh khác nhau và phụ thuộc vào những giả định riêng. Một tổng quan được lưu trữ bởi EPA về định giá dịch vụ hệ sinh thái nước ngọt cho thấy các ước lượng tiền tệ thường phụ thuộc đáng kể vào phương pháp, hệ sinh thái và bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
Do đó, hai nghiên cứu cùng đánh giá một dạng lợi ích môi trường không nhất thiết cho cùng một giá trị tiền tệ nếu đối tượng dân cư, địa điểm, phương pháp hoặc giả định khác nhau.
Giá trị môi trường không chỉ khác giữa các địa điểm mà còn khác giữa các nhóm người
Ngoại tác là chi phí hoặc lợi ích mà một hoạt động tạo ra cho những chủ thể không được phản ánh đầy đủ trong giao dịch thị trường. Vì vậy, câu hỏi “ngoại tác lớn đến đâu?” còn phụ thuộc vào ai đang chịu tác động.
Một mức ô nhiễm nhất định có thể tạo hậu quả lớn hơn với trẻ em, người cao tuổi hoặc những người có bệnh nền. Một hệ sinh thái có thể mang giá trị sinh kế rất lớn cho cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên nhưng ít ảnh hưởng hơn đến nhóm dân cư khác.
Khi tổng hợp tất cả ảnh hưởng thành một con số duy nhất, sự khác biệt này dễ bị che khuất.
Đây là lý do giá trị trung bình không phải lúc nào cũng thể hiện đầy đủ mức độ ngoại tác. Hai trường hợp có cùng tổng thiệt hại tiền tệ có thể rất khác nhau nếu một trường hợp phân tán nhỏ trên hàng triệu người, còn trường hợp kia tập trung nghiêm trọng vào một cộng đồng dễ bị tổn thương.
Vì vậy, đo lường đầy đủ không chỉ là cộng tất cả thiệt hại mà còn phải hiểu phân bố của thiệt hại.
Quan hệ môi trường thường phi tuyến và chứa ngưỡng khó quan sát
Một khó khăn khác là không phải mọi tác động đều tăng đều theo lượng ô nhiễm hoặc mức suy thoái.
Trong một số trường hợp, hệ sinh thái có khả năng hấp thụ một mức áp lực nhất định mà chưa xuất hiện biến đổi lớn. Nhưng khi vượt một ngưỡng, hậu quả có thể tăng nhanh hoặc khó đảo ngược. Ngược lại, giảm phát thải một lượng bằng nhau ở hai trạng thái môi trường khác nhau cũng không nhất thiết tạo ra cùng một lợi ích.
Điều này khiến cách suy luận tuyến tính kiểu “phát thải tăng 10% thì thiệt hại tăng 10%” có thể không phù hợp.
Ngoài ra, nhiều quan hệ sinh thái được tạo bởi mạng lưới tương tác. Một biến đổi ban đầu có thể kéo theo phản ứng dây chuyền qua nguồn thức ăn, môi trường sống, chất lượng đất, nước hoặc khả năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái. Không phải tất cả các mắt xích đều được quan sát hoặc hiểu hoàn chỉnh.
Vì thế, bất định không chỉ đến từ thiếu dữ liệu mà còn đến từ giới hạn hiểu biết về cơ chế.
Tác động dài hạn làm phát sinh vấn đề quy đổi giá trị theo thời gian
Nếu thiệt hại xảy ra trong nhiều năm, không thể đơn giản cộng một đồng thiệt hại hôm nay với một đồng thiệt hại xảy ra vài chục năm sau mà không xác định cách quy đổi.
Trong phân tích kinh tế, tỷ lệ chiết khấu thường được sử dụng để đưa các giá trị tương lai về hiện tại. Nhưng với ngoại tác môi trường dài hạn, lựa chọn tỷ lệ này có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả.
Tỷ lệ chiết khấu cao làm giảm trọng số của thiệt hại xảy ra xa trong tương lai; tỷ lệ thấp làm cho lợi ích và chi phí của các thế hệ sau có trọng lượng lớn hơn trong phép tính hiện tại. Vì thế, đây không chỉ là một tham số kỹ thuật mà còn liên quan đến cách phân bổ giá trị giữa hiện tại và tương lai.
OECD xem xử lý bất định và chiết khấu là những vấn đề quan trọng trong phân tích chi phí - lợi ích môi trường, đặc biệt đối với các tác động dài hạn như biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí và quản lý nước.
Cộng nhiều loại ngoại tác có thể dẫn đến bỏ sót hoặc tính trùng
Sau khi từng tác động được định lượng, vẫn còn vấn đề tổng hợp.
Một tác động môi trường có thể đi qua nhiều mắt xích. Chẳng hạn, suy giảm một chức năng sinh thái có thể làm giảm một dịch vụ hệ sinh thái, sau đó dịch vụ suy giảm mới tạo thiệt hại đối với con người. Nếu đồng thời cộng giá trị của chức năng trung gian, dịch vụ cuối cùng và thiệt hại cuối cùng mà không nhận diện quan hệ giữa chúng, cùng một hậu quả có thể bị tính nhiều lần.
Ngược lại, nếu chỉ tính các tác động dễ định giá, những giá trị phi thị trường hoặc tác động chưa đủ dữ liệu lại bị bỏ khỏi phép tính.
Trong kế toán hệ sinh thái, việc phân biệt đầu ra của hệ sinh thái với đầu vào được các đơn vị kinh tế sử dụng là một trong những cơ chế giúp tránh tính trùng. World Bank cũng nhấn mạnh rằng giá thị trường quan sát được của một sản phẩm không nhất thiết phản ánh đầy đủ phần đóng góp riêng của hệ sinh thái tạo nên sản phẩm đó.
Do đó, một con số tổng ngoại tác càng tham vọng bao quát nhiều tác động thì yêu cầu về cấu trúc nhân quả và quy tắc tổng hợp càng cao.
Vì sao không nên hiểu “đo lường khó” là “không thể đo lường”
Các khó khăn trên không đồng nghĩa ngoại tác môi trường hoàn toàn không thể định lượng. Phần lớn vấn đề nằm ở việc hiểu mức độ chắc chắn của từng lớp đo lường.
Một đánh giá có thể khá chắc chắn về lượng phát thải nhưng ít chắc chắn hơn về mức phơi nhiễm; khá chắc chắn về một số hậu quả sức khỏe nhưng khó định giá đa dạng sinh học; có dữ liệu tốt cho tác động hiện tại nhưng bất định lớn đối với hậu quả sau vài thập kỷ.
Vì thế, kết quả tốt không nhất thiết phải là một con số duy nhất được trình bày như sự thật tuyệt đối. Trong nhiều trường hợp, cách thể hiện phù hợp hơn là:
· Phân biệt tác động đã định lượng được với tác động chưa định lượng được
· Nêu rõ ranh giới không gian và thời gian
· Công khai kịch bản đối chứng và giả định chính
· Trình bày khoảng giá trị hoặc phân tích độ nhạy khi bất định đáng kể
· Tránh quy đổi bằng tiền đối với những tác động mà việc tiền tệ hóa không đủ cơ sở
Cách tiếp cận này giữ lại thông tin về giới hạn của phép đo thay vì tạo cảm giác chính xác giả tạo.
Việc đo lường ngoại tác môi trường thường khó vì không tồn tại một “đồng hồ đo ngoại tác” duy nhất. Người phân tích phải lần lượt xác định phạm vi tác động, xây dựng trạng thái đối chứng, nối dữ liệu môi trường với hậu quả, xử lý khác biệt theo địa điểm và thời gian, định giá những lợi ích hoặc thiệt hại không có thị trường, rồi tổng hợp chúng mà không bỏ sót hoặc tính trùng.
Vì vậy, khó khăn cốt lõi không chỉ là thiếu dữ liệu. Nó nằm ở cả ranh giới đo lường, quan hệ nhân quả, bất định khoa học và cách xác lập giá trị. Một ước lượng đáng tin cậy không nhất thiết phải bao quát mọi tác động bằng một con số duy nhất; quan trọng hơn là chỉ rõ phần nào đã đo được, phần nào chưa đo được, giả định nào quyết định kết quả và mức độ bất định còn lại.
