Hướng đến giá trị sống bền vững

Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường được hình thành thế nào?

Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường không chỉ là câu chuyện tăng trưởng gây ô nhiễm. Hai hệ thống liên kết theo cả hai chiều: môi trường cung cấp nền tảng cho hoạt động kinh tế, còn cách nền kinh tế khai thác, sản xuất và tiêu dùng lại làm thay đổi chính nền tảng đó.
Kinh tế không vận hành tách biệt khỏi môi trường. Mọi nền kinh tế đều cần đất, nước, năng lượng, khoáng sản, sinh khối và nhiều dịch vụ do hệ sinh thái cung cấp để duy trì sản xuất và đời sống. Sau quá trình khai thác, sản xuất và tiêu dùng, nền kinh tế lại trả về môi trường khí thải, nước thải, chất thải rắn, nhiệt và những thay đổi trong sử dụng đất.
Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường được hình thành thế nào?

Vì vậy, mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường là quan hệ hai chiều có tính phản hồi. Môi trường vừa cung cấp đầu vào, điều kiện và giới hạn cho hoạt động kinh tế; kinh tế vừa làm thay đổi số lượng, chất lượng và khả năng tái tạo của các nguồn lực môi trường. Khi sự thay đổi này vượt quá khả năng phục hồi hoặc hấp thụ của tự nhiên, chi phí sẽ quay trở lại nền kinh tế dưới dạng khan hiếm tài nguyên, thiệt hại sức khỏe, suy giảm năng suất, tổn thất tài sản và gia tăng rủi ro.

Điểm quan trọng là quan hệ này không mặc định đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế phải đánh đổi môi trường. Mức độ tác động còn phụ thuộc vào quy mô của nền kinh tế, cơ cấu sản xuất, công nghệ, cách tiêu dùng và thể chế điều chỉnh các chi phí môi trường.

Kinh tế tồn tại bên trong nền tảng môi trường

Một cách hiểu phù hợp là xem nền kinh tế như một hệ thống sử dụng các dòng vật chất và năng lượng từ môi trường để tạo ra hàng hóa, dịch vụ và phúc lợi. Ngay cả những ngành được coi là ít phụ thuộc vào tài nguyên như tài chính, phần mềm hay dịch vụ số vẫn cần điện, cơ sở hạ tầng, thiết bị, vật liệu và một môi trường sống đủ ổn định cho lực lượng lao động.

Môi trường đóng ít nhất ba vai trò kinh tế quan trọng. Thứ nhất, nó cung cấp tài nguyên đầu vào, chẳng hạn nước, đất, gỗ, kim loại, nhiên liệu và nguồn lợi sinh học. Thứ hai, các hệ sinh thái cung cấp những dịch vụ không nhất thiết được mua bán trực tiếp trên thị trường, như điều hòa dòng chảy, duy trì độ phì đất, thụ phấn, hấp thụ carbon hay giảm tác động của lũ lụt. Thứ ba, môi trường tiếp nhận một phần chất thải được tạo ra từ sản xuất và tiêu dùng.

Khả năng tiếp nhận đó không vô hạn. Một dòng sông có thể phân hủy một lượng chất hữu cơ nhất định, rừng có thể tái sinh nếu tốc độ khai thác nằm trong khả năng phục hồi, còn khí quyển và đại dương có thể hấp thụ một phần carbon. Khi tốc độ khai thác hoặc phát thải lớn hơn khả năng tái tạo và hấp thụ, chất lượng của chính nguồn đầu vào kinh tế bắt đầu giảm.

Đây là lý do khái niệm vốn tự nhiên có ý nghĩa trong kinh tế môi trường. Đất, rừng, nguồn nước, khoáng sản và hệ sinh thái không chỉ là bối cảnh bên ngoài nền kinh tế mà còn là một dạng tài sản tạo ra dòng lợi ích qua thời gian. Khung Hệ thống Kế toán Kinh tế–Môi trường của Liên Hợp Quốc, hay SEEA, được xây dựng chính để tổ chức thông tin về các tài sản môi trường và dòng vật chất giữa môi trường với nền kinh tế bên cạnh hệ thống tài khoản kinh tế truyền thống.

Hiểu mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường từ hai chiều tác động

Kinh tế tác động đến môi trường qua các dòng vật chất

Chiều tác động dễ quan sát nhất bắt đầu khi nền kinh tế chuyển tài nguyên tự nhiên thành sản phẩm và dịch vụ. Quy mô sản xuất càng lớn thì lượng vật chất và năng lượng cần xử lý có thể càng lớn, trừ khi công nghệ, cơ cấu kinh tế hoặc cách sử dụng tài nguyên thay đổi đủ mạnh để bù lại hiệu ứng quy mô.

Khai thác tài nguyên làm thay đổi vốn tự nhiên

Khai khoáng lấy vật chất khỏi lòng đất; nông nghiệp chuyển đổi đất, nước và dinh dưỡng thành lương thực; lâm nghiệp sử dụng sinh khối; hoạt động xây dựng cần cát, đá, kim loại và năng lượng. Mỗi dòng vật chất đều liên kết hoạt động kinh tế với một thay đổi vật lý trong môi trường.

Quy mô của quá trình này đã tăng mạnh cùng với nền kinh tế thế giới. Global Resources Outlook 2019 của International Resource Panel thuộc UNEP ghi nhận lượng tài nguyên được khai thác trên toàn cầu tăng từ khoảng 27 tỷ tấn năm 1970 lên khoảng 92 tỷ tấn năm 2017. Báo cáo này cũng ước tính việc khai thác và chế biến tài nguyên, nhiên liệu và thực phẩm có liên quan đến khoảng một nửa lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu và hơn 90% tổn thất đa dạng sinh học cũng như áp lực về nước.

Điều đó cho thấy tác động môi trường không chỉ xuất hiện ở cuối dây chuyền dưới dạng rác thải. Nó bắt đầu ngay từ quyết định nền kinh tế lấy bao nhiêu tài nguyên, lấy ở đâu và sử dụng chúng với hiệu suất như thế nào.

Sản xuất và tiêu dùng tạo phát thải và chất thải

Sau khâu khai thác, tài nguyên tiếp tục được chế biến, vận chuyển, sử dụng rồi thải bỏ. Ở mỗi giai đoạn, năng lượng được tiêu thụ và các chất dư thừa có thể đi vào không khí, đất hoặc nước.

Cơ chế này giải thích vì sao cơ cấu năng lượng, công nghệ sản xuất và mô hình tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng môi trường. Hai nền kinh tế có cùng quy mô GDP nhưng không nhất thiết gây áp lực môi trường giống nhau nếu một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch và các ngành vật liệu nặng, trong khi nền kinh tế còn lại sử dụng năng lượng và nguyên liệu hiệu quả hơn.

IPCC trong Báo cáo Đánh giá lần thứ sáu kết luận hoạt động của con người đã làm nhiệt độ trung bình toàn cầu giai đoạn 2011–2020 cao hơn khoảng 1,1°C so với giai đoạn 1850–1900. Con số này không phải thước đo riêng cho hoạt động kinh tế, nhưng nó cho thấy quy mô tích lũy của tác động đến từ những hệ thống năng lượng, sản xuất, giao thông và sử dụng đất phục vụ xã hội loài người.

Môi trường tác động ngược lại hoạt động kinh tế

Nếu chỉ nhìn chiều kinh tế tác động đến môi trường, người đọc có thể hiểu môi trường như một đối tượng thụ động chịu ô nhiễm. Thực tế, những biến đổi môi trường có thể quay trở lại và thay đổi trực tiếp khả năng sản xuất, chi phí và mức độ ổn định của nền kinh tế.

Dịch vụ hệ sinh thái trở thành đầu vào kinh tế

Một trang trại không chỉ cần máy móc và lao động mà còn phụ thuộc vào đất, nước, khí hậu và nhiều quá trình sinh thái. Thủy điện phụ thuộc vào chế độ dòng chảy. Thủy sản phụ thuộc vào chất lượng môi trường nước và khả năng tái tạo của quần thể sinh vật. Du lịch tự nhiên phụ thuộc vào cảnh quan và hệ sinh thái còn đủ sức hấp dẫn.

Khi những chức năng này suy giảm, nền kinh tế phải chịu ít nhất hai dạng chi phí. Một là sản lượng hoặc chất lượng đầu ra giảm. Hai là phải bỏ thêm vốn và lao động để thay thế dịch vụ mà tự nhiên từng cung cấp với chi phí thấp hoặc không có giá thị trường rõ ràng.

Đây không phải tác động nhỏ về mặt kinh tế. Trong báo cáo The Economic Case for Nature năm 2021, World Bank ước tính việc suy giảm một số dịch vụ hệ sinh thái quan trọng có thể khiến GDP toàn cầu năm 2030 thấp hơn khoảng 2,3%, tương đương khoảng 2,7 nghìn tỷ USD mỗi năm, so với kịch bản không xảy ra sự suy giảm đó.

Suy thoái môi trường chuyển thành chi phí và rủi ro

Tác động ngược cũng diễn ra qua sức khỏe và tài sản. Ô nhiễm không khí hoặc nước có thể làm tăng bệnh tật, chi phí y tế và ngày công bị mất. Hạn hán có thể làm giảm sản lượng nông nghiệp và thủy điện. Lũ lụt, bão và nước biển dâng có thể làm hư hại nhà ở, nhà máy, đường sá và cảng biển.

Về mặt kinh tế, đây là quá trình một vấn đề môi trường được chuyển thành chi phí sản xuất, tổn thất thu nhập hoặc rủi ro tài sản. Những tác động này còn có thể lan truyền qua chuỗi cung ứng. Một doanh nghiệp không nằm trong vùng hạn hán vẫn có thể chịu giá nguyên liệu tăng nếu nhà cung cấp của nó phụ thuộc vào nguồn nước đang suy giảm.

Vì vậy, môi trường không chỉ đặt ra một “chi phí bảo vệ”. Chất lượng môi trường còn ảnh hưởng đến năng suất, độ ổn định và khả năng duy trì tăng trưởng của nền kinh tế.

Hai chiều tác động tạo thành vòng phản hồi kinh tế–môi trường

Khi ghép hai chiều lại, quan hệ giữa kinh tế và môi trường trở thành một vòng phản hồi.

Một nền kinh tế mở rộng có thể làm nhu cầu năng lượng và nguyên liệu tăng. Nếu mức sử dụng tài nguyên và phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm không giảm đủ nhanh, áp lực lên môi trường sẽ tăng theo. Suy thoái môi trường sau đó làm nguồn tài nguyên khan hiếm hơn, giảm năng suất hoặc gây thiệt hại tài sản, từ đó làm tăng chi phí kinh tế.

Vấn đề trở nên phức tạp bởi tác động môi trường thường có độ trễ. Lợi ích kinh tế từ khai thác tài nguyên có thể xuất hiện ngay, trong khi suy thoái đất, mất đa dạng sinh học hoặc tích tụ khí nhà kính chỉ bộc lộ đầy đủ sau nhiều năm. Vì lợi ích và chi phí xảy ra ở những thời điểm khác nhau, quyết định có vẻ hiệu quả trong ngắn hạn chưa chắc tạo ra lợi ích ròng trong dài hạn.

Tuy nhiên, vòng phản hồi cũng có thể thay đổi theo hướng khác. Công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng vật liệu, thay đổi cơ cấu sản xuất và các thể chế khiến người gây ô nhiễm phải tính đến chi phí môi trường có thể làm giảm áp lực trên mỗi đơn vị giá trị kinh tế.

Trong phân tích môi trường, sự thay đổi này thường được mô tả bằng khái niệm tách rời. Tách rời tương đối xảy ra khi áp lực môi trường vẫn tăng nhưng chậm hơn nền kinh tế. Tách rời tuyệt đối chỉ xảy ra khi nền kinh tế tiếp tục tạo thêm giá trị trong khi một áp lực môi trường cụ thể thực sự giảm về tổng lượng.

Phân biệt hai trường hợp này rất quan trọng. Một nhà máy giảm 20% năng lượng cho mỗi sản phẩm chưa chắc làm tổng mức sử dụng năng lượng giảm nếu sản lượng tăng 50%. Hiệu quả trên mỗi đơn vị được cải thiện nhưng hiệu ứng quy mô có thể bù lại một phần hoặc toàn bộ lợi ích. Đây cũng là lý do không thể kết luận quan hệ kinh tế–môi trường chỉ từ một chỉ số hiệu suất riêng lẻ.

Ngoại tác làm chi phí môi trường bị tách khỏi quyết định kinh tế

Một trong những nguyên nhân khiến quan hệ kinh tế và môi trường dễ mất cân bằng là ngoại tác môi trường.

Giả sử một cơ sở sản xuất có thể xả nước thải mà không phải chịu toàn bộ chi phí làm sạch nguồn nước. Chi phí mà doanh nghiệp nhìn thấy thấp hơn chi phí thực sự mà xã hội phải gánh chịu. Người dân ở hạ lưu, ngành thủy sản hoặc hệ thống cấp nước có thể phải chịu phần chi phí còn lại.

Khi đó, quyết định hợp lý đối với một chủ thể riêng lẻ chưa chắc hợp lý đối với toàn bộ nền kinh tế. Giá thị trường của sản phẩm không phản ánh đầy đủ chi phí xã hội của quá trình tạo ra nó, nên sản lượng và mức ô nhiễm có thể cao hơn mức xảy ra nếu mọi chi phí đều được tính đến.

Cùng một vấn đề xuất hiện với tài nguyên dùng chung. Nếu mỗi người khai thác có động cơ lấy thêm cá, nước ngầm hoặc một nguồn lực khác trước người khác, tổng mức khai thác có thể vượt khả năng phục hồi dù từng quyết định riêng lẻ đều có lý do kinh tế.

GDP cũng có giới hạn tương tự khi được dùng để đánh giá riêng mối quan hệ này. GDP đo dòng giá trị sản xuất trong một thời kỳ, chứ không phải bản cân đối đầy đủ về việc xã hội đang duy trì hay làm suy giảm toàn bộ tài sản tự nhiên của mình. Chi phí khắc phục hậu quả ô nhiễm thậm chí có thể tạo thêm hoạt động kinh tế được ghi nhận trong GDP, trong khi tổn thất đối với một số tài sản hoặc dịch vụ hệ sinh thái không được phản ánh trực tiếp theo cùng cách.

Vì thế, các hệ thống như SEEA bổ sung góc nhìn về trữ lượng tài sản môi trường, khai thác tài nguyên, năng lượng, nước và phát thải. Chúng không thay thế GDP, mà giúp tránh nhầm lẫn giữa tăng dòng sản xuất hiện tại và duy trì nền tảng tài sản cần thiết cho sản xuất trong tương lai.

Điều gì khiến quan hệ kinh tế–môi trường bền vững hơn?

Không có một tỷ lệ cố định giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường. Mức độ tác động được hình thành từ sự kết hợp của ba nhóm lực chính.

Hiệu ứng quy mô làm áp lực có xu hướng tăng khi tổng sản lượng và tiêu dùng tăng. Hiệu ứng cơ cấu làm tác động thay đổi khi nền kinh tế chuyển giữa những ngành có cường độ vật chất và phát thải khác nhau. Hiệu ứng công nghệ làm lượng tài nguyên hoặc ô nhiễm trên mỗi đơn vị sản phẩm thay đổi.

Thể chế quyết định cách ba lực này được chuyển thành hành vi kinh tế. Khi chi phí môi trường bị đẩy sang cộng đồng hoặc tương lai, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhận tín hiệu giá không đầy đủ. Khi các chi phí đó được phản ánh tốt hơn trong quyết định, động cơ tiết kiệm tài nguyên, hạn chế ô nhiễm và đổi mới công nghệ trở nên mạnh hơn.

Tuy nhiên, đánh giá một nền kinh tế “xanh” chỉ bằng hiệu suất cũng chưa đủ. Nếu cường độ phát thải giảm nhưng tổng phát thải vẫn vượt khả năng hấp thụ của môi trường, áp lực tuyệt đối vẫn tồn tại. Tương tự, giảm khai thác một loại tài nguyên trong nước nhưng chuyển toàn bộ sản xuất gây tác động sang quốc gia khác có thể làm chỉ số trong nước tốt hơn mà dấu chân môi trường toàn chuỗi cung ứng không giảm tương ứng.

Do đó, cách đọc đầy đủ hơn là xem đồng thời khả năng tạo ra giá trị kinh tế với tình trạng vốn tự nhiên, tổng mức sử dụng vật chất và năng lượng, lượng ô nhiễm, khả năng phục hồi của hệ sinh thái và các rủi ro quay trở lại nền kinh tế.

Một mối quan hệ bền vững không đòi hỏi nền kinh tế ngừng sử dụng tài nguyên. Điều cần đạt là cải thiện phúc lợi và năng suất mà không liên tục làm suy giảm những nguồn vốn tự nhiên và khả năng hấp thụ môi trường cần thiết cho các thế hệ sản xuất tiếp theo. Đây chính là điểm nối giữa hiệu quả kinh tế và tính bền vững môi trường: hai mục tiêu chỉ có thể duy trì lâu dài khi các tác động qua lại của chúng được tính trong cùng một hệ thống.

Kinh tế và môi trường vì thế không phải hai lĩnh vực đứng cạnh nhau rồi thỉnh thoảng xảy ra xung đột. Chúng tạo thành một hệ thống liên kết: môi trường cung cấp tài nguyên, dịch vụ hệ sinh thái và không gian hấp thụ chất thải; nền kinh tế biến đổi những nguồn lực đó để tạo ra giá trị; những biến đổi môi trường sau đó quay trở lại ảnh hưởng đến chi phí, năng suất, sức khỏe, tài sản và khả năng tăng trưởng.

Hiểu đúng mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường cần nhìn đủ cả hai chiều và vòng phản hồi giữa chúng. Tăng trưởng có thể làm áp lực môi trường lớn hơn khi hiệu ứng quy mô chiếm ưu thế, nhưng công nghệ, cơ cấu kinh tế và thể chế có thể làm thay đổi mức tác động. Vì vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là nền kinh tế tạo ra bao nhiêu giá trị, mà còn là giá trị đó được tạo ra với lượng tài nguyên, ô nhiễm và mức suy giảm vốn tự nhiên như thế nào.

26/08/2026 12:15:31
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN