Phân biệt phục hồi vật liệu và tái chế
- Phục hồi vật liệu có phạm vi rộng hơn tái chế
- Mục tiêu của hai quá trình không hoàn toàn giống nhau
- Dạng vật chất đầu ra là dấu hiệu phân biệt quan trọng
- Cơ chế công nghệ khác nhau ở mức độ biến đổi vật liệu
- Không phải mọi hình thức phục hồi đều được tính là tái chế
- Có thể phân loại một công nghệ bằng đầu ra và chức năng cuối cùng
Vì vậy, một công nghệ thu hồi được kim loại, chuẩn bị một bộ phận để sử dụng lại hoặc đưa vật liệu phù hợp vào hoạt động san lấp kỹ thuật có thể thuộc nhóm phục hồi vật liệu nhưng không phải trường hợp nào cũng là tái chế. Muốn gọi một quá trình là tái chế, phải xem vật liệu thải có thực sự trải qua bước tái xử lý để trở thành đầu vào vật chất mới hay không.
Phục hồi vật liệu có phạm vi rộng hơn tái chế
“Phục hồi” trong quản lý chất thải được hiểu theo kết quả hữu ích: chất thải thay thế một vật liệu khác vốn phải được sử dụng cho một chức năng nhất định, hoặc được chuẩn bị để thực hiện chức năng đó. “Phục hồi vật liệu” thu hẹp phạm vi này vào phần vật chất, loại trừ phục hồi năng lượng và việc biến chất thải thành nhiên liệu.
Trong phạm vi đó, tái chế chỉ là một nhóm hoạt động. Khung chất thải của EU liệt kê phục hồi vật liệu có thể bao gồm chuẩn bị để tái sử dụng, tái chế và san lấp bằng vật liệu phù hợp. Do đó, quan hệ giữa hai khái niệm có thể biểu diễn đơn giản là:
Tái chế ⊂ Phục hồi vật liệu
Điều này cũng giải thích vì sao không nên dùng hai thuật ngữ như từ đồng nghĩa. Một tỷ lệ “phục hồi vật liệu” có thể bao gồm các dòng vật chất không được tính là tái chế nếu chúng được đưa vào hình thức sử dụng hữu ích khác.

Mục tiêu của hai quá trình không hoàn toàn giống nhau
Mục tiêu trung tâm của phục hồi vật liệu là giữ lại giá trị sử dụng của chất thải dưới dạng vật chất thay vì để vật chất đó đi tới xử lý cuối cùng. Tiêu chí quan trọng là chất thải hoặc vật liệu thu được có đảm nhiệm một chức năng hữu ích và thay thế nhu cầu sử dụng vật liệu khác hay không.
Tái chế đặt ra một điều kiện hẹp hơn: vật liệu thải phải được tái xử lý để trở thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất có thể tiếp tục tham gia vào chu trình sản xuất hoặc sử dụng. EPA của Hoa Kỳ cũng mô tả tái chế theo chuỗi thu gom, xử lý và tái sản xuất thành sản phẩm mới.
Ví dụ, nhôm phế liệu được nấu chảy và luyện lại thành nguyên liệu nhôm là tái chế vì cấu trúc dòng vật liệu được tái xử lý thành nguyên liệu cho sản xuất. Ngược lại, một sản phẩm đã thành chất thải được kiểm tra, làm sạch hoặc sửa chữa để dùng lại có thể là phục hồi vật liệu thông qua chuẩn bị để tái sử dụng mà không cần tái chế thành vật liệu mới.
Dạng vật chất đầu ra là dấu hiệu phân biệt quan trọng
Đầu ra của phục hồi vật liệu có thể tồn tại ở nhiều cấp độ. Giá trị có thể được giữ lại ở cấp sản phẩm hoặc bộ phận, ở cấp vật liệu, hoặc thông qua việc dùng chất thải phù hợp thay thế vật liệu khác trong một chức năng kỹ thuật.
Đầu ra của tái chế hẹp hơn về bản chất quá trình: chất thải sau tái xử lý trở thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất cho mục đích ban đầu hoặc mục đích khác. Điểm quyết định không phải sản phẩm mới có giống sản phẩm cũ hay không, mà là đã có bước tái xử lý vật liệu.
|
Tiêu chí |
Phục hồi vật liệu |
Tái chế |
|
Phạm vi |
Rộng hơn |
Là một dạng phục hồi vật liệu |
|
Mục tiêu chính |
Đưa chất thải vào chức năng hữu ích dưới dạng vật chất |
Tái xử lý chất thải thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất |
|
Có bắt buộc tạo vật liệu mới không? |
Không |
Có bước tái xử lý tạo đầu ra vật chất mới |
|
Chuẩn bị để tái sử dụng |
Có thể thuộc phạm vi |
Không nhất thiết là tái chế |
|
San lấp bằng chất thải phù hợp |
Có thể là phục hồi vật liệu |
Không được tính là tái chế theo định nghĩa của EU |
|
Phục hồi năng lượng |
Không thuộc phục hồi vật liệu |
Không thuộc tái chế |
Vì vậy, chỉ nhìn vào việc “đã lấy được vật liệu ra khỏi chất thải” là chưa đủ để xác định một quá trình có phải tái chế hay không. Cần xem vật liệu sau đó được xử lý và sử dụng theo con đường nào.
Cơ chế công nghệ khác nhau ở mức độ biến đổi vật liệu
Công nghệ phục hồi vật liệu có thể gồm các công đoạn nhận diện, phân loại, tách, làm sạch và chuẩn bị dòng vật chất để chúng đi vào một phương án sử dụng hữu ích. Trong một cơ sở phục hồi vật liệu, thiết bị sàng, nam châm, dòng điện xoáy, cảm biến quang học hoặc hệ thống phân loại có thể được dùng để tách giấy, nhựa, kim loại và các dòng vật liệu khác. Tuy nhiên, phân loại hoặc tách vật liệu tự nó chưa đồng nghĩa với tái chế; đây thường mới là bước chuẩn bị cho công đoạn phục hồi tiếp theo.
Tái chế phải đi xa hơn bước phân loại. Vật liệu đã thu gom và làm sạch được đưa qua quá trình tái xử lý phù hợp với từng loại vật liệu. Kim loại có thể được nấu luyện lại, giấy được nghiền thành bột giấy, nhựa có thể được nghiền và tái gia công thành hạt hoặc sản phẩm, còn chất hữu cơ có thể được tái xử lý bằng các quá trình sinh học phù hợp.
Ranh giới vì thế nằm ở chức năng của toàn bộ chuỗi xử lý, không phải ở một thiết bị đơn lẻ. Một dây chuyền phân loại có thể phục vụ tái chế, chuẩn bị để tái sử dụng hoặc một hình thức phục hồi vật liệu khác tùy đầu ra cuối cùng.
Không phải mọi hình thức phục hồi đều được tính là tái chế
Sự khác biệt rõ nhất xuất hiện ở các trường hợp biên. Khung chất thải của EU loại phục hồi năng lượng khỏi cả khái niệm phục hồi vật liệu và tái chế. Chất thải được đốt để tạo nhiệt hoặc điện có thể thuộc nhóm phục hồi theo nghĩa rộng, nhưng giá trị được thu hồi chủ yếu là năng lượng chứ không phải vật chất.
San lấp kỹ thuật bằng chất thải phù hợp lại là trường hợp khác. Hoạt động này có thể được xem là phục hồi vật liệu khi chất thải thay thế vật liệu khác cho mục đích cải tạo khu vực đào hoặc mục đích kỹ thuật cảnh quan. Tuy nhiên, EU tách hoạt động này khỏi tái chế vì chất thải không được tái xử lý thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất theo tiêu chí của tái chế.
Chuẩn bị để tái sử dụng cũng cho thấy ranh giới tương tự. Một sản phẩm đã trở thành chất thải có thể được kiểm tra, làm sạch hoặc sửa chữa rồi sử dụng lại mà không phải trải qua quá trình tái chế vật liệu. Giá trị của sản phẩm được giữ lại ở cấp độ cao hơn thay vì phá vỡ sản phẩm để thu nguyên liệu.
Có thể phân loại một công nghệ bằng đầu ra và chức năng cuối cùng
Khi cần xác định một công nghệ thuộc phục hồi vật liệu hay tái chế, trước tiên cần theo dõi vật chất sau xử lý đi đâu và ở dạng nào.
Nếu vật liệu thải được tái xử lý thành nguyên liệu, chất hoặc sản phẩm để tiếp tục sử dụng, đó là tái chế và đồng thời cũng thuộc phục hồi vật liệu. Nếu chất thải được chuẩn bị để tái sử dụng hoặc được dùng thay thế một vật liệu khác trong một chức năng phục hồi được công nhận mà không qua quá trình tái chế, đó có thể là phục hồi vật liệu nhưng không phải tái chế.
Cũng không nên phân loại chỉ dựa vào tên thiết bị hoặc tên dây chuyền. “Máy thu hồi”, “hệ thống phân loại” hay “công nghệ tái chế” chỉ mô tả một phần hoạt động; việc phân loại chính xác phụ thuộc vào toàn bộ quá trình và đầu ra cuối cùng.
Một phép kiểm tra ngắn có thể dùng trong thực tế:
1. Vật liệu có được tách khỏi dòng chất thải để tiếp tục phục vụ mục đích hữu ích hay không?
2. Giá trị thu hồi là vật chất hay chủ yếu là năng lượng?
3. Vật liệu có trải qua tái xử lý thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất hay không?
4. Nếu không tái xử lý, đầu ra có thuộc một hình thức phục hồi vật liệu khác như chuẩn bị để tái sử dụng hoặc san lấp phù hợp hay không?
Nếu câu trả lời cho câu thứ ba là có, quá trình có cơ sở để được xem là tái chế. Nếu chỉ đáp ứng mục tiêu sử dụng hữu ích ở cấp vật chất mà không đáp ứng điều kiện tái xử lý của tái chế, nên phân loại nó ở phạm vi rộng hơn là phục hồi vật liệu.
Phục hồi vật liệu và tái chế khác nhau chủ yếu ở phạm vi, mục tiêu và dạng đầu ra. Phục hồi vật liệu là khái niệm rộng, nhằm giữ chất thải trong một chức năng hữu ích dưới dạng vật chất; tái chế là một trường hợp cụ thể trong đó chất thải được tái xử lý thành sản phẩm, vật liệu hoặc chất. Vì thế, mọi hoạt động tái chế đều có thể là phục hồi vật liệu, nhưng không phải mọi hoạt động phục hồi vật liệu đều là tái chế. Khi đánh giá một công nghệ, tiêu chí đáng tin cậy nhất là xem toàn bộ dòng vật chất sau xử lý được biến đổi như thế nào và cuối cùng thay thế hoặc trở thành vật chất gì.
